Trên thị trường năng lượng, giá dầu tăng do xuất khẩu dầu thô của Venezuela sụt giảm mạnh và lo ngại OPEC cùng các đồng minh không nâng sản lượng lên.
Kết thúc phiên giao dịch, giá dầu thô ngọt nhẹ (WTI) giao tháng 7/2018 tăng 1,22 USD (hay 1,88%) lên 65,95 USD/thùng; dầu Brent giao tháng 8/2018 tăng 1,96 USD (hay 2,6%) lên 77,32 USD/thùng.
Ngành dầu Venezuela thường xuyên bị chậm trễ và giảm sản lượng có thể sẽ khiến công ty dầu mỏ quốc doanh PDVSA của nước này bị giao hàng chậm. Các tàu chở dầu vẫn đang phải nằm chờ ở cảng dầu chinshcuar Venezuela để được bốc xếp hơn 24 triệu thùng dầu thô, nhiều tương đương lượng giao của PDVSA trong cả tháng 4. Trong khi đó, Bộ trưởng Dầu mỏ Algeria cho biết các bộ trưởng OPEC sẽ tập trung vào sự cân bằng của thị trường hơn là gia tăng sản lượng. Iraq - một thành viên khác của OPEC - cũng cho rằng đề xuất tăng sản lượng khai thác của tổ chức có thể không được đưa ra bàn luận trong cuộc họp họp sắp tới của tổ chức này.
Các nước trong và ngoài OPEC, bao gồm cả Nga, đã tiến hành cắt giảm khai thác dầu mỏ kể từ đầu năm 2017 nhằm giảm tình trạng dư thừa trên thị trường thế giới. OPEC sẽ họp tại Vienna (Áo) ngày 22/6 tới để thảo luận về chính sách khai thác dầu thời gian tới.
Các nước sản xuất dầu lớn nhất thế giới

Sản lượng dầu Mỹ

Sản lượng dầu Mỹ so với Nga và Saudi Arabia

Trên thị trường kim loại quý, giá vàng tăng do USD yếu đi, mặc dù xu hướng giá tăng bị hạn chế bởi tâm lý chờ đợi kết quả cuộc họp của Fed.
Kết thúc phiên giao dịch, giá vàng giao ngay tăng 0,24% lên 1.299,05 USD/ounce sau khi có thời điểm đạt 1.303,08 USD/ounce, mức cao nhất trong một tuần; vàng Mỹ giao tháng Tám tăng 1,6 USD (0,1%) và đóng cửa ở mức 1.303 USD/ounce.
Nhà phân tích Simona Gambarini, thuộc Capital Economics, nhận định đà tăng của giá vàng là nhờ sự đi xuống của đồng bạc xanh. Tuy nhiên, nhà phân tích này lưu ý rằng các nhà đầu tư trên thị trường giữ tâm lý chờ đợi trước thềm cuộc họp của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), diễn ra vào hai ngày 12-13/6 tới. Một số người dự báo tại cuộc họp lần này, Fed sẽ thông báo một đợt tăng lãi suất mới, đồng thời phát đi tín hiệu về triển vọng chính sách tiền tệ của Mỹ.
Về những kim loại quý khác, giá bạc tăng 0,8% lên 16,78 USD/ounce sau khi có lúc đạt 16,90 USD/ounce, mức cao nhất kể từ ngày 23/4. Các chuyên gia phân tích dự đoán giá bạc có thể đạt tới 20 USD/ounce vào cuối năm nay bởi kinh tế toàn cầu tăng trưởng tốt, nhu cầu bạc trong lĩnh vực công nghiệp tăng và nhu cầu mua bạc làm tài sản trú ẩn an toàn cũng tăng trong bối cảnh lo ngại về căng thẳng địa chính trị. Chuyên gia Naeem Aslam thuộc Think Markets cho rằng, nếu phá vỡ ngưỡng 20 USD, bạc sẽ tiến tới 22-23 USD/ounce.
Giá bạch kim giảm 0,2% xuống 900,40 USD/ounce, trong khi palađi giảm 0,2% xuống 1.014,50 USD/ounce.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá đồng tăng lên mức cao kỷ lục 4 năm rưỡi vì có khả năng kết quả cuộc thương lượng về lương thưởng của công nhân mỏ Escondida ở Chile sẽ khiến nguồn cung bị gián đoạn, trong bối cảnh nhu càu mua các tài sản như chứng khoán đang tăng lên. Đồng kỳ hạn giao sau 3 tháng trên sàn London trong phiên tăng 1,7% lên 7.348 USD/tấn, cao nhất kể từ tháng 1/2014, kết thúc phiên hợp đồng này ở 7.332 USD/tấn, tăng 1,6% so với đóng cửa phiên trước. Mức cộng giữa hợp đồng giao ngay với giao sau 3 tháng đã giảm xuống 1,5 USD/tấn, thấp nhất kể từ tháng 3/2017, cho thấy dấu hiệu nguồn cung ngắn hạn sẽ khan hiếm. Mức giá kháng cự của mặt hàng này trên sàn London hiện là 7.305 USD/tấn. Nhà phân tích kỹ thuật Wang Tao của Reuters cho hay, đã vượt qua ngưỡng này rồi thì giá đồng có thể lên mức 7.373 USD/tấn.
Cũng trong phiên vừa qua, giá nhôm giảm 1,5% xuống 2.310 USD/tấn, giá kẽm giảm 0,3% xuống 3.183 USD/tấn, trong khi giá chì tăng 0,3% lên 2.534 USD/tấn, còn giá nickel giảm 0,7% xuống 15.520 USD/tấn, thiếc tăng 1,7% đạt 21.325 USD/tấn.
Giá thép tại Trung Quốc tăng lên mức cao nhất trong vòng 6 tháng do chiến dịch kiểm soát chống ô nhiễm môi trường trên toàn lãnh thổ nước này. Thép cây hợp đồng giao tháng 10 trên sàn Thượng Hải tăng 1,5% lên 3.807 NDT (595,75 USD)/tấn, đầu phiên giá đạt 3.869 NDT, cao nhất kể từ 5/12/2017. Giá thép giao ngay tăng 0,3% lên 4.340,13 NDT/tấn.
Việc Trung Quốc kiểm soát mạnh mẽ đã làm giảm lo ngại về nguồn cung dư thừa. Sản lượng thép thô hàng ngày của các công ty thép lớn tại nước này giai đoạn 10-20/5 tiếp tục tăng, lên kỷ lục 1,97 triệu tấn. Tuy nhiên, tồn trữ thép cây của các thương gia Trung Quốc giảm xuống 5,32 triệu tấn trong tuần vừa qua, giảm 5,9% so với một tuần trước đó. Tồn trữ tại các nhà máy thép cũng giảm. Tổng lượng tồn trữ đã giảm 140.000 tấn trong tuần qua, xuống 4,67 triệu tấn (tới ngày 1/6), mức thấp nhất kể từ đầu tháng 2.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê arabica kết thúc phiên giảm 2,55 US cent tương đương 2,2% xuống 1,157 USD/lb, trong phiên có lúc xuống 1,1565 USD – thấp nhất 3 tuần do đồng real Brazil yếu đi so với USD mặc dù lượng bán ra từ Brazil không nhiều. Tính từ đầu tuần, arabica đã giảm 5%, hướng đến tuần giảm mạnh nhất trong năm nay. Robusta giao tháng 7 cũng giảm 18 USD tương đương 1% xuống 1.733 USD/tấn.
Tại châu Á, mức cộng giá cà phê Indonesia (loại 4, 80 hạt lỗi) so với hợp đồng giao tháng 7 tại London tăng lên 50 USD/tấn, từ mức 40 USD/tấn cách đây một tuần. Đồng rupiah của Indonesia tháng vừa qua đã giảm xuống mức thấp nhất 2 năm so với USD trong bối cảnh thị trường toàn cầu biến động, song kể từ khi bước sang tháng 6 đã hồi phục khá nhiều. So với ngày 24/5, rupiah đã tăng 2,4% lên 14.210 Rupiah/USD. Đang mùa thu hoạch nên nguồn cung tại Indonesia tương đối nhiều. Thị trường này sẽ nghỉ lễ Eid Al-Fitr từ 10 đến 20/6.
Tại Việt Nam, giá cà phê nhân tại Tây Nguyên tăng lên 36.500 – 37.000 đồng (1,6 – 1,62 USD)/kg, từ mức 36.500 đồng cách đây một tuần. Tuy nhiên, người trồng cà phê vẫn chưa muốn bán ở mức giá này vì lượng tồn trữ không còn nhiều mà đã cuối vụ thu hoạch, trong khi nhu cầu từ các nhà nhập khẩu cũng không cao. Mức trừ lùi cà phê Việt Nam (robusta) loại 2, 5% đen và vỡ, giảm còn 60-70 USD/tấn (hợp đồng giao tháng 9), so với 80 USD/tấn cách đây một tuần.
Giá đường thô giảm 0,47 US cent (3,9%) xuống 11,37 USD cent/lb, trong khi đường trắng giảm 11,7 USD (3,4%) xuống 335,60 USD/tấn do đồng real Brazil giảm so với USD. Đường đang tiến tới tuần thứ 2 giảm giá, với mức giảm từ đầu tuần tới nay lên tới khoảng 6%, sau khi cuộc đình công của các lái xe ở Brazil kết thúc.
Giá cao su phiên vừa qua tăng, là phiên thứ 2 liên tiếp tăng. Tại Tokyo, cao su giao tháng 11 tăng 1,6 JPY lên 189,7 JPY (1,73 USD)/kg, cao su giao tháng 9 tại Thượng Hải tăng 80 NDT lên 11.685 NDT (1.828 USD)/tấn.

Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

65,97

+1,22

+1,88%

Dầu Brent

USD/thùng

77,32

+1,96

+2,60%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

49.550,00

+910,00

+1,87%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,93

0,00

-0,10%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

211,91

+0,43

+0,20%

Dầu đốt

US cent/gallon

217,84

-0,15

-0,07%

Dầu khí

USD/tấn

666,25

+13,50

+2,07%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

66.990,00

+730,00

+1,10%

Vàng New York

USD/ounce

1.301,00

-2,00

-0,15%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.569,00

-8,00

-0,17%

Bạc New York

USD/ounce

16,75

-0,06

-0,39%

Bạc TOCOM

JPY/g

59,30

+0,50

+0,85%

Bạch kim giao ngay

USD/ounce

900,43

+0,74

+0,08%

Palladium giao ngay

USD/ounce

1.013,57

+0,18

+0,02%

Đồng New York

US cent/lb

326,60

-0,90

-0,27%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

7.332,00

+112,00

+1,55%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

2.312,00

-33,00

-1,41%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

3.183,00

-9,50

-0,30%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

21.325,00

+350,00

+1,67%

Ngô

US cent/bushel

376,25

-2,00

-0,53%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

526,75

+7,00

+1,35%

Lúa mạch

US cent/bushel

239,00

-1,75

-0,73%

Gạo thô

USD/cwt

11,22

-0,34

-2,94%

Đậu tương

US cent/bushel

974,25

-20,00

-2,01%

Khô đậu tương

USD/tấn

358,40

-6,60

-1,81%

Dầu đậu tương

US cent/lb

30,60

-0,05

-0,16%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

513,40

-3,60

-0,70%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.328,00

-29,00

-1,23%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

115,70

-2,55

-2,16%

Đường thô

US cent/lb

11,73

-0,47

-3,85%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

164,85

-1,05

-0,63%

Bông

US cent/lb

92,79

+2,24

+2,47%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

599,50

+6,80

+1,15%

Cao su TOCOM

JPY/kg

189,50

-0,20

-0,11%

Ethanol CME

USD/gallon

1,45

+0,01

+0,84%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg