Trên thị trường năng lượng, giá dầu thô biến động trái chiều khi một số nhà máy lọc dầu của Mỹ vừa mở cửa trở lại sau siêu bão Harvey thì nước này lại phải tiếp tục đối phó với cơn bão Irma.
Đóng cửa phiên giao dịch, giá dầu Brent Biển Bắc giao tháng 11/2017 tăng 29 US cent (0,5%) lên 54,49 USD/thùng – mức cao nhất kể từ ngày 18/4; dầu thô ngọt nhẹ (WTI) giao tháng 10/2017 giảm 7 US cent (0,1%) xuống 49,09 USD/thùng.
Bão Irma đã mạnh lên cấp 5, cấp lớn nhất trên thang cảnh báo bão Saffir Simpson của Mỹ và được đánh giá là cơn bão mạnh nhất ở Đại Tây Dương trong 100 năm qua. Theo Trung tâm Bão quốc gia Mỹ, siêu bão Irma có sức gió lên tới 295km/h, đang di chuyển theo hướng Tây với tốc độ 26 km/h và đang tiến sát khu vực Đông Bắc vùng lãnh thổ Puerto Rico thuộc Mỹ.
Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) cho biết dự trữ dầu thô của Mỹ trong tuần trước tăng 4,6 triệu thùng dầu, cao hơn con số dự đoán của các nhà phân tích tham gia cuộc thăm dò của hãng tin Anh Reuters.
EIA cho biết các cơ sở lọc dầu tại Mỹ trong tuần trước chỉ chạy 79,7% công suất - mức thấp nhất kể từ năm 2010. Trong tuần sau khi bão Harvey đổ bộ vào nước Mỹ, xuất khẩu dầu thô của nước này giảm 749.000 thùng/ngày xuống 153.000 thùng/ngày.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng tăng trở lại mức cao nhất 1 năm do đồng USD suy yếu theo sau số liệu bi quan về thị trường lao động Mỹ.
Giá vàng giao ngay có thời điểm vọt lên 1.349,49 USD/ounce, mức cao nhất kể từ ngày 7/9/2016; vàng giao tháng 12/2017 đóng phiên ở mức 1.350,30 USD/ounce, tăng 11,3 USD so với phiên trước.
Chỉ số USD - thước đo giá trị của đồng bạc xanh so với rổ sáu đồng tiền chủ chốt - phiên này giảm 1,1% xuống mức thấp nhất kể từ tháng 1/2015. Đồng USD chịu sức ép đi xuống sau khi nhà đầu tư nhận được thống kê cho hay tuần trước số đơn xin trợ cấp thất nghiệp tại Mỹ tăng lên mức cao nhất trong hơn hai năm.
Bên cạnh đó, tình hình căng thẳng xung quanh tham vọng hạt nhân của CHDCND Triều Tiên tiếp tục là nhân tố hỗ trợ thị trường vàng. Trong một phát biểu mới đây, Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe nhấn mạnh mối đe dọa từ Triều Tiên là vấn đề nghiêm trọng và đòi hỏi có phản ứng khẩn cấp.
Nhà phân tích Jonathan Butler, thuộc Mitsubishi, tại London, nhận định căng thẳng địa chính trị leo thang xung quanh chương trình hạt nhân của Triều Tiên sẽ hỗ trợ giá vàng trong ngắn hạn. Ngoài ra, một số chuyên gia cho rằng thị trường sẽ sớm chuyển hướng quan tâm sang cuộc họp chính sách tiền tệ sắp tới của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), dự kiến bắt đầu vào ngày 19/9 tới.
Trên thị trường nông sản, giá đường thô giảm do dự báo nguồn cung gia tăng trên thị trường thế giới. Đường thô giao tháng 10 giá giảm 0,26 US cent tương đương 1,8% xuống 14,03 US cent/lb, trong khi đường trắng giao tháng 10 giá giảm 4 USD tương đương 1,1% xuống 376,60 USD/tấn.
Dự báo sản lượng đường Ấn Độ sẽ hồi phục trong niên vụ 2017/18 gây áp lực giảm giá.
Tổ chức Đường Quốc tế dự báo sản lượng đường Ấn Độ năm 2017/18 (bắt đầu từ tháng 10) sẽ tăng khoảng 22% lên 25 triệu tấn. Thông tin này lấn át thông tin về chính sách đánh thuế nhập khẩu ethanol của Brazil.
Với mặt hàng cà phê, giá robusta giao tháng 11 giá tăng 5 USD tương đương 0,3% lên 1.950 USD/tấn, trong khi arabica giao tháng 12 tăng 1,25 US cent tương đương 0,98% lên 1,2915 USD/lb.
Các thương gia đã hạ dự báo về sản lượng cà phê Brazil vụ mùa này do thời tiết khô hạn.

 

Giá hàng hóa thế giới

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

49,09

-0,07

-0,32%

Dầu Brent

USD/thùng

54,49

+0,29

+0,32%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

35.650,00

+90,00

+0,25%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,97

-0,01

-0,44%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

166,12

+0,02

+0,01%

Dầu đốt

US cent/gallon

178,97

+0,36

+0,20%

Dầu khí

USD/tấn

529,50

+6,25

+1,19%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

49.950,00

+40,00

+0,08%

Vàng New York

USD/ounce

18,18

+0,06

+0,33%

Vàng TOCOM

JPY/g

63,10

+0,50

+0,80%

Bạc New York

USD/ounce

1.017,05

-1,30

-0,13%

Bạc TOCOM

JPY/g

960,03

+2,14

+0,22%

Bạch kim giao ngay

USD/t oz.

1.017,05

-1,30

-0,13%

Palladium giao ngay

USD/t oz.

960,03

+2,14

+0,22%

Đồng New York

US cent/lb

314,35

0,00

0,00%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

6.898,50

-2,50

-0,04%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

2.107,00

+2,50

+0,12%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

3.129,00

+34,00

+1,10%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

20.750,00

-40,00

-0,19%

Ngô

US cent/bushel

356,00

+0,75

+0,21%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

438,50

+1,25

+0,29%

Lúa mạch

US cent/bushel

235,00

+1,25

+0,53%

Gạo thô

USD/cwt

12,62

-0,07

-0,55%

Đậu tương

US cent/bushel

972,75

+4,00

+0,41%

Khô đậu tương

USD/tấn

308,00

+0,80

+0,26%

Dầu đậu tương

US cent/lb

35,58

+0,15

+0,42%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

491,80

-0,20

-0,04%

Cacao Mỹ

USD/tấn

1.906,00

-11,00

-0,57%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

129,15

+1,25

+0,98%

Đường thô

US cent/lb

14,03

-0,26

-1,82%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

146,35

+5,55

+3,94%

Bông

US cent/lb

74,90

+0,63

+0,85%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

382,90

+3,60

+0,95%

Cao su TOCOM

JPY/kg

229,20

-1,80

-0,78%

Ethanol CME

USD/gallon

1,53

+0,01

+0,73%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg