Trên thị trường năng lượng, giá dầu tăng nhẹ bất chấp số liệu mới nhất cho thấy kho dự trữ dầu mỏ của Mỹ tăng vào tuần trước.
Tại thị trường New York, giá dầu ngọt nhẹ Mỹ (WTI) giao tháng 3/2017 tăng 0,17 USD lên 52,34 USD/thùng, trong khi dầu Brent giao tháng 4/2017 tăng 0,07 USD lên 55,12 USD/thùng tại London.
Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ cho biết, dự trữ dầu mỏ của nước này tăng 13,8 triệu thùng lên 508,6 triệu thùng trong tuần kết thúc vào ngày 3/2, ghi dấu đớt tăng năm tuần liên tiếp và tăng 8,1% so với cùng kỳ năm ngoái.
Theo các nhà phân tích, mức tăng này không lớn như nhiều nhà đầu tư đã lo ngại nên không gây biến động mạnh tới giá dầu.
Chủ tịch OPEC Mohammed Saleh al-Sada cho biết các thị trường dầu mỏ thế giới đang phản ứng tích cực trước việc cắt giảm sản lượng dầu của các nước trong và ngoài OPEC.
Phát biểu với các phóng viên tại Doha ngày 8/2, ông al-Sada - Bộ trưởng Năng lượng Qatar, nước đang giữ chức Chủ tịch Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) - cho biết thị trường đang phản ứng tích cực và có thể thấy nguồn cung về dầu mỏ giảm. Theo ông, OPEC cắt giảm sản lượng dầu mỏ là nhằm cân bằng lại nguồn cung cầu trên thị trường dầu mỏ thế giới.
Trước đó, hồi tháng 12/2016, OPEC và các nước sản xuất dầu mỏ ngoài OPEC do Nga đứng đầu đã nhất trí cắt giảm sản lượng khoảng gần 1,8 triệu thùng/ngày, bắt đầu từ đầu năm 2017 và ban đầu có hiệu lực trong 6 tháng.
Ông Sada đưa ra tuyên bố trên trong bối cảnh giá dầu thế giới sụt giảm sau khi các số liệu cho thấy dự trữ dầu mỏ của Mỹ tăng hồi tuần trước. Tại thị trường New York, giá dầu thô ngọt nhẹ Mỹ (WTI) hiện giao dịch ở mức 51,71 USD/thùng, trong khi giá dầu thô Biển Bắc ở mức 54,76 USD/thùng.
Báo cáo triển vọng năng lượng ngắn hạn hàng tháng của Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ cho biết, sản lượng dầu trung bình của nước này ước tính khoảng 8,9 triệu thùng mỗi ngày trong năm 2016 và dự báo sẽ đạt khoảng 9 triệu thùng mỗi ngày vào năm 2017 và 9,5 triệu thùng mỗi ngày vào năm 2018.
Về thông tin liên quan, hãng tin Reuters cho biết nhu cầu dầu mỏ năm 2016 của Trung Quốc - quốc gia có mức tiêu thụ năng lượng nhiều nhất thế giới - đã tăng ở mức chậm nhất trong ba năm.
Theo ước tính của Reuters dựa trên các số liệu chính thức, nhu cầu dầu mỏ của Trung Quốc chỉ tăng 2,5% trong năm 2016, so với mức tăng 3,1% của năm 2015 và 3,8% năm 2014, do tiêu thụ diesel và sử dụng xăng dầu sụt giảm mạnh. Ngoài ra, nhu cầu dầu mỏ của nước này chững lại còn do kinh tế Trung Quốc tăng trưởng 6,7% trong năm 2016, nhịp độ tăng chậm nhất trong vòng 26 năm qua.
Cục Quản lý năng lượng quốc gia Trung Quốc (NEA) cùng với Ủy ban Phát triển và Cải cách Nhà nước (NDRC) mới đây cho biết Trung Quốc đặt mục tiêu tăng sản lượng khai thác dầu thô trong nước lên 200 triệu tấn và khả năng cung ứng 360 tỷ m3 khí đốt tự nhiên đến năm 2020.
Ngành công nghiệp dầu mỏ Trung Quốc dự định thực hiện những nhiệm vụ quan trọng, gồm có tăng cường khai thác dầu mỏ để đảm bảo nguồn cung ứng cho thị trường nội địa, tăng cường xây dựng tuyến đường ống dẫn dầu khí và phát triển các nguồn năng lượng sạch thay thế.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng vọt lên mức cao nhất trong vòng 3 tháng trong bối cảnh các rủi ro chính trị từ các cuộc bầu cử tại châu Âu và những lo ngại xoay quanh các chính sách của Tổng thống Mỹ Donald Trump đẩy tăng nhu cầu đối với tài sản an toàn như vàng.
Giá vàng giao ngay tăng 0,5% lên 1.239,27 USD/ounce, trong phiên có lúc giá tăng lên mức cao nhất kể từ phiên 11/11 là 1.244,67 USD/ounce; vàng giao sau tăng 0,3% lên mức 1.239,5 USD/ounce.
Người đứng đầu mảng chiến lược hàng hóa tại Saxo Bank Ole Hanson nhận định hiện đang xuất hiện nhu cầu tiềm ẩn đối với vàng như một công cụ phòng ngừa các bất ổn chính trị tại cả hai bên bờ Đại Tây Dương.
Chuyên gia phân tích trưởng Jiang Shu tại Shandong Gold Group phán đoán giá vàng sẽ tiếp tục tăng cho tới giữa tháng Hai giữa bối cảnh Mỹ và châu Âu tồn tại các bất ổn. Nhưng một khi số liệu về tình hình lạm phát trong tháng 1/2017 được Mỹ công bố, thị trường sẽ có cơ sở để nhận định về khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) có tăng lãi suất vào tháng Ba hay không, qua đó tác động tới giá vàng.
Về những kim loại quý khác, giá bạc giao ngay tăng 0,3% lên 17,76 USD/ounce, sau khi đạt mức cao nhất kể từ phiên 11/11/2016 là 17,87 USD/ounce, bạch cũng tăng 1,2% lên 1.012,24 USD/ounce, sau khi tăng chạm mức cao nhất kể từ phiên 9/11 là 1.019,2 USD/ounce và palladium tăng 1,1% lên 768,7 USD/ounce.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê giảm bởi không còn hy vọng Brazil sẽ nhập khẩu.
Cà phê robusta giảm xuống mức thấp nhất kể từ đầu năm tới nay, trong khi arabica hồi phục nhự từ mức thấp nhất 1 tháng.
Robusta giao tháng 3 trên sàn London giá giảm 41 USD hay 1,9% xuống 2.106 USD/tấn, trong phiên có lúc giá xuống 2.103 USD/tấn, thấp nhất kể từ 29/12.
Người trồng cà phê Brazil khẳng định dự trữ hiện ở mức 4 triệu bao (1 bao = 60 kg) và không cần thiết phải nhập khẩu.
Tuy nhiên, công ty cà phê lớn nhất thế giới là Cooxupé (Brazil) dự báo sản lượng năm 2017 sẽ đạt từ 43 đến 47 triệu bao, giảm so với năm ngoái, do khu vực Minas Gerais bị ảnh hưởng bởi thời tiết.
Arabica giao tháng 5/2017 tăng 0,25 US cent hay 0,2% lên 1,453 USD/lb, hồi phục từ mức 1,442 USD, thấp nhất kể từ ngày 9/1.

Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

52,34

+0,17

+0,31%

Dầu Brent

USD/thùng

55,12

+0,07

+0,27%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

37.920,00

+430,00

+1,15%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

3,15

+0,03

+0,90%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

155,54

+0,27

+0,17%

Dầu đốt

US cent/gallon

164,06

+0,46

+0,28%

Dầu khí

USD/tấn

494,25

0,00

0,00%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

46.410,00

+340,00

+0,74%

Vàng New York

USD/ounce

1.241,00

+1,50

+0,12%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.455,00

+18,00

+0,41%

Bạc New York

USD/ounce

17,74

+0,03

+0,17%

Bạc TOCOM

JPY/g

63,60

-0,10

-0,16%

Bạch kim giao ngay

USD/t oz.

1.014,35

-2,60

-0,26%

Palladium giao ngay

USD/t oz.

769,18

-1,60

-0,21%

Đồng New York

US cent/lb

266,95

+0,30

+0,11%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

5.895,00

+100,00

+1,73%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

1.847,50

+16,50

+0,90%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

2.848,00

+53,00

+1,90%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

19.025,00

+95,00

+0,50%

Ngô

US cent/bushel

369,25

-1,50

-0,40%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

431,25

-1,25

-0,29%

Lúa mạch

US cent/bushel

256,00

+2,00

+0,79%

Gạo thô

USD/cwt

9,56

0,00

0,00%

Đậu tương

US cent/bushel

1.055,75

-3,00

-0,28%

Khô đậu tương

USD/tấn

340,00

-1,20

-0,35%

Dầu đậu tương

US cent/lb

34,66

-0,03

-0,09%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

524,00

0,00

0,00%

Cacao Mỹ

USD/tấn

1.993,00

-12,00

-0,60%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

145,30

+0,25

+0,17%

Đường thô

US cent/lb

20,76

+0,04

+0,19%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

173,00

+3,00

+1,76%

Bông

US cent/lb

75,25

+0,16

+0,21%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

371,90

+10,00

+2,76%

Cao su TOCOM

JPY/kg

310,90

-1,10

-0,35%

Ethanol CME

USD/gallon

1,60

+0,03

+2,04%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg