Trên thị trường năng lượng, giá dầu đồng loạt giảm trên cả 2 sàn giao dịch, hướng đến tuần giảm thứ 2 liên tiếp do USD mạnh lên và sản lượng dầu Mỹ tăng khi mà dấu hiệu cho thấy dự trữ dầu tại Cushing, Oklahoma (Mỹ) ngày càng đầy hơn.
Kết thúc phiên giao dịch, giá dầu Brent Biển Bắc tại London giảm 73 US cent, tương đương 1,1%, xuống 63,61 USD/thùng; dầu ngọt nhẹ (WTI) tại London giảm 1,03 USD, tương đương 1,7%, xuống 60,12 USD/thùng.
Dầu Brent đang hướng tới tuần giảm giá khoảng 0,8%, sau khi đã giảm 4,4% trong tuần trước; còn dầu WTI hướng tới tuần giảm 1,5% sau khi giảm 3,6% trong tuần trước.
Đồng USD tăng khoảng 0,6% so với rổ các đồng tiền chủ chốt. Đồng bạc xanh mạnh lên khiến các hàng hóa định giá bằng đồng tiền này, trong đó có dầu, đắt đỏ hơn.
Dự trữ dầu tại kho chứa tại Cushing, Oklahoma, Mỹ tăng hơn 290.000 thùng trong tuần kết thúc vào ngày 6/3, theo số liệu sơ bộ của công ty cung cấp dữ liệu các thị trường năng lượng Genscape. Nếu mức tăng này được xác định bởi dữ liệu chính thức, đây sẽ là lần đầu tiên dự trữ dầu tại khu vực này tăng, sau khi đã giảm hơn một nửa kể từ tháng 11/2017.
Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) mới đây công bố số liệu cho thấy sản lượng dầu thô của nước này đã lập kỷ lục khoảng 10,4 triệu thùng dầu/ngày trong tuần kết thúc vào ngày 2/3. Sản lượng khai thác dầu Mỹ được dự đoán tăng vượt ngưỡng 11 triệu thùng dầu/ngày vào cuối năm nay, gây trở ngại cho nỗ lực cắt giảm sản lượng dầu của Tổ chức các Nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC), Nga và các nhà sản xuất dầu khác.
Nhận định về đường đi của giá dầu trong những phiên gần đây, Walter Zimmerman, nhà phân tích kỹ thuật trưởng tại United-ICAP, cho rằng giá dầu đã tăng đạt đỉnh và đang hạ dần, hướng đến các mức thấp hồi đầu tháng 2/2018 là 57 USD/thùng đối với dầu ngọt nhẹ Mỹ và 62 USD/thùng đối với dầu Brent.
Goldman Sachs mới đây cũng cho rằng có những tín hiệu cho thấy giá dầu đang xu hướng tăng chậm lại.
Goldman Sachs ngày 7/3 đã công bố lại dự báo tăng trưởng nhu cầu dầu mỏ toàn cầu năm 2018 là 1,85 triệu thùng/ngày.
Theo Goldman, giá dầu giảm gần đây có yếu tố mùa vụ, và số liệu từ thập kỷ qua cho thấy nhu cầu suy yếu hiện nay có thể kéo dài trong quý 1 năm nay, và tăng trưởng nhu cầu có thể tiếp tục chậm trong quý 2.
Tuy nhiên, các nhà phân tích của Goldman cho biết “chúng tôi tiếp tục dự đoán rằng vĩ mô năm 2018 sẽ vẫn hỗ trợ nhu cầu dầu mỏ và dự báo tăng trưởng nhu cầu năm 2018 của chúng tôi vẫn là 1,85 triệu thùng”. Triển vọng nhu cầu như vậy sẽ cao hơn tăng trưởng sản lượng dầu đá phiến và của các nhà sản xuất khác ngoài OPEC trong năm nay, nhờ đó sẽ dẫn tới tồn kho giảm tiếp trong quý 3, xuống dưới mức trung bình 5 năm.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng cũng giảm do đồng USD lên giá so với đồng euro, sau phát biểu của người đứng đầu Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB).
Giá vàng giao tháng 4/2018 giảm 5,9 USD (0,4%) xuống 1.321,70 USD/ounce; vàng giao ngay giảm 0,4% xuống 1.320 USD/ounce.
Các nhà giao dịch cho biết đồng USD đã phục hồi từ mức thấp nhất trong gần ba tuần so với đồng euro, sau khi Chủ tịch ECB, Mario Draghi, đánh đi tín hiệu rằng tiến trình “bình thường hóa” chính sách tiền tệ tại Khu vực đồng euro (Eurozone) sẽ được tiến hành từ từ. Nhà quản lý Walter Pehowich, thuộc Dillon Gage Metals, nhận định sự tăng giá của đồng bạc xanh là “cơn gió ngược” đối với giá vàng.
Ngoài chính sách tiền tệ của ECB, các nhà giao dịch trên thị trường chờ đợi thêm thông tin về kế hoạch áp thuế nhập khẩu đối với hai mặt hàng nhôm và thép của Mỹ (sau khi Tổng thống Donald Trump ký sắc lệnh công bố áp mức thuế quan mới 10% và 25% đôi với hai mặt hàng này) cùng số liệu mới về thị trường việc làm trong lĩnh vực phi nông nghiệp tại nền kinh tế lớn nhất thế giới. Thống kê về thị trường lao động, một trong những công cụ đánh giá tình trạng “sức khỏe” của kinh tế Mỹ, sẽ là “manh mối” để đoán định tiến trình nâng lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed). Giá vàng luôn tỏ ra nhạy cảm với các đợt thay đổi lãi suất của cơ quan này.
Đối với nông sản, giá đường thô giao tháng 5 tăng 0,1 US cent tương đương 0,78% lên 12,89 US cent/lb, trong khi đường trắng giao cùng kỳ hạn tăng 2,6 USD tương đương 0,7% lên 356,70 USD/tấn.
Hoạt động mua bù diễn ra đã giúp giá hồi phục sau khi giảm mạnh gần 5% ở phiên trước bởi dự đoán sản lượng của Ấn Độ tăng mạnh.
Tuy nhiên, cà phê các loại đồng loạt giảm giá. Arabica giao tháng 5 giảm 0,45 US cent tương đương 0,4% xuống 1,203 USD/lb, còn robusta giao tháng 5 giảm 25 USD tương đương 1,4% xuống 1.760 USD/tấn.
Xuất khẩu cà phê Việt Nam – nước sản xuất robusta lớn nhất thế giới – giảm 35,3% trong tháng 1, theo số liệu của Hải quan.
Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

60,12

-1,3

-1,7%

Dầu Brent

USD/thùng

63,61

-0,73

-1,1%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

39.830,00

+200,00

+0,50%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,75

-0,01

-0,25%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

187,80

+1,03

+0,55%

Dầu đốt

US cent/gallon

186,90

+0,99

+0,53%

Dầu khí

USD/tấn

569,50

+1,25

+0,22%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

55.120,00

+310,00

+0,57%

Vàng New York

USD/ounce

1.318,40

-3,30

-0,25%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.517,00

+5,00

+0,11%

Bạc New York

USD/ounce

16,44

-0,06

-0,36%

Bạc TOCOM

JPY/g

56,40

+0,10

+0,18%

Bạch kim giao ngay

USD/t oz.

952,01

-1,18

-0,12%

Palladium giao ngay

USD/t oz.

978,12

-0,57

-0,06%

Đồng New York

US cent/lb

308,45

+0,55

+0,18%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

6.833,00

-117,00

-1,68%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

2.106,00

+9,00

+0,43%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

3.230,00

-30,00

-0,92%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

21.545,00

+170,00

+0,80%

Ngô

US cent/bushel

392,50

-1,00

-0,25%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

495,75

-3,50

-0,70%

Lúa mạch

US cent/bushel

265,00

+1,00

+0,38%

Gạo thô

USD/cwt

12,43

-0,05

-0,44%

Đậu tương

US cent/bushel

1.061,25

-2,75

-0,26%

Khô đậu tương

USD/tấn

383,40

0,00

0,00%

Dầu đậu tương

US cent/lb

31,83

-0,01

-0,03%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

520,30

-1,50

-0,29%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.493,00

+50,00

+2,05%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

120,30

-0,45

-0,37%

Đường thô

US cent/lb

12,89

+0,10

+0,78%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

139,00

-2,65

-1,87%

Bông

US cent/lb

85,12

+2,26

+2,73%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

477,00

-1,60

-0,33%

Cao su TOCOM

JPY/kg

193,20

+1,50

+0,78%

Ethanol CME

USD/gallon

1,51

0,00

-0,20%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg