Phiên giao dịch 31/1 trên thị trường thế giới (kết thúc vào rạng sáng 1/2 giờ VN), giá dầu tăng do OPEC cắt giảm sản lượng nhiều hơn dự kiến.
Dầu thô ngọt nhẹ (WTI) kỷ hạn trên sàn New York giá tăng 18 US cent lên 52,81 USD/thùng, dầu Brent trên sàn London kỳ hạn giao tháng 3 tăng 47 US cent lên 55,70 USD, kỳ hạn giao tháng 4 lúc cao nhất trong phiên tăng 2%. Tính chung cả tháng, cả 2 loại dầu tăng giá khoảng 2%.
OPEC đã giảm sản lượng 900.000 thùng dầu/ngày trong tháng 1/2017, tương đương 75% mức cam kết mà OPEC đã đồng thuận vào tháng 11 năm ngoái.
Trong buổi họp bàn về việc thực hiện mục tiêu giảm sản lượng dầu mới đây, Bộ trưởng Năng lượng Saudi Arabia, ông Khalid Al-Falih cho biết các nước thành viên đã thực sự giảm sản lượng dầu.
Trong khi đó, nhiều chuyên gia phân tích về thị trường năng lượng vẫn hoài nghi về khả năng Iraq sẽ giảm sản lượng dầu bởi sau nhiều năm chiến tranh và bị cấm vận, chính phủ Iraq sẽ muốn đẩy mạnh xuất khẩu để kiếm nguồn thu.
Khi OPEC và một số nước ngoài OPEC chính thức thông báo về kế hoạch cắt giảm sản lượng vào cuối tháng 11/2016, giá dầu tăng mạnh, tuy nhiên sau đó đà tăng chậm lại bởi thị trường lo lắng OPEC sẽ không thực hiện đúng các cam kết.
Chính phủ các nước thành viên OPEC nhanh chóng hành động để trấn an thị trường. Chính phủ Saudi Arabia, Kuwait, Algeria tuyên bố họ thậm chí đã giảm sản lượng nhiều hơn cả mức cam kết. Chính phủ Nga cũng khẳng định tương tự.
Nhóm các nước trong và ngoài OPEC thậm chí cũng đã lập ra một ủy ban để giám sát việc tuân thủ cam kết đã được đưa ra. Ủy ban này sẽ đưa ra chi tiết mức giảm của từng thành viên vào cuối tháng 3/2017.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng tăng mạnh trong phiên cuối tháng do USD giảm thúc đẩy hoạt động mua vào của các nhà đầu tư.
Giá vàng giao ngay có thời điểm vọt lên 1.215,37 USD/ounce, mức cao nhất kể từ ngày 24/1, giá vàng giao kỳ hạn tại Mỹ tăng 1,3% lên đóng cửa ở mức 1.208,60 USD/ounce. Đây là những mức giá cao nhất trong 1 tuần.
Đồng USD xuống giá trước những bình luận của tân Tổng thống Mỹ về việc các nước định giá thấp đồng nội tệ.
Các nhà phân tích nhận định đồng USD đã thực sự yếu đi, sau khi Tổng thống Mỹ D. Trump sa thải quyền Bộ trưởng Tư pháp Mỹ, bà Sally Yates sau khi bà ra lệnh cho các đại diện pháp lý của bộ này không thực thi sắc lệnh cấm nhập cảnh vào Mỹ mà ông Trump trước đó đã ký, trong đó áp dụng đối với 7 quốc gia có người Hồi giáo chiếm đa số.
Ngày 31/1, Thủ tướng Đức Angela Merkel đã phủ nhận cáo buộc của Giám đốc Hội đồng Thương mại Quốc gia Mỹ cho rằng Đức tác động để định giá đồng euro thấp hơn giá trị thực nhằm giành được lợi thế trong hoạt động thương mại.
Theo chuyên gia Ole Hansen, làm việc tại ngân hàng Saxo Bank, Copenhagen, những động thái mới đây của tân Tổng thống Mỹ vẫn tiếp tục là động lực đi lên cho giá vàng, khi những tuyên bố về chủ nghĩa bảo hộ và sự siết chặt chính sách nhập cư của ông Trump đã gây lo ngại cho các nhà giao dịch trên thị trường.
Ngoài những phát biểu của ông Trump, các nhà đầu tư cũng đang hướng sự chú ý vào cuộc họp kéo dài hai ngày của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), diễn ra từ ngày 31/1-1/2, để đoán định chính sách lãi suất trong thời gian tới của cơ quan này.
Trên thị trường kim loại cơ bản, giá đồng đạt kỷ lục cao 2 tháng do USD giảm và lo ngại về khả năng nguồn cung ở Chile bị gián đoạn.
Phiên cuối tháng, đồng tăng giá 2,9%, với hợp đồng giao sau 3 tháng trên sàn London đạt 5.989 USD/tấn vào lúc đóng cửa, trong phiên có lúc giá lên tới 5.99USD/tấn USD, cao nhất 2 tháng.

Trên thị trường nông sản, giá cà phê giảm trong phiên cuối tháng khi những vườn cà phê ở Brazil đã có mưa. Arabica giao tháng 3 trên sàn New York giá giảm 1,6 US cent hay 1,1% xuống 1,4955 USD/lb, trong khi robusta tại London giảm 15 USD hay 0,7% xuống 2222 USD/tấn.

Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá 1/1

Giá 1/2

Giá 1/2 so với 31/1

Giá 1/2 so với 31/1+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

53,72

52,91

+0,18

+0,17%

Dầu Brent

USD/thùng

56,82

55,70

+0,47

+0,85%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

40.480,00

38.330,00

+20,00

+0,05%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

3,72

3,15

+0,04

+1,15%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

167,39

152,56

+2,01

+1,34%

Dầu đốt

US cent/gallon

172,82

162,66

-0,42

-0,26%

Dầu khí

USD/tấn

504,75

491,00

-6,75

-1,36%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

49.610,00

46.850,00

+50,00

+0,11%

Vàng New York

USD/ounce

1.151,70

1.206,50

+2,10

+0,17%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.304,00

4.382,00

+16,00

+0,37%

Bạc New York

USD/ounce

15,99

17,47

-0,07

-0,42%

Bạc TOCOM

JPY/g

61,00

63,10

+0,60

+0,96%

Bạch kim giao ngay

USD/t oz.

903,10

994,75

-0,25

-0,03%

Palladium giao ngay

USD/t oz.

680,96

754,24

-0,13

-0,02%

Đồng New York

US cent/lb

250,55

272,15

-0,60

-0,22%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

5.535,50

5.991,00

+171,00

+2,94%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

1.693,00

1.819,00

+17,00

+0,94%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

2.576,00

2.860,00

+83,00

+2,99%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

21.125,00

19.825,00

+175,00

+0,89%

Ngô

US cent/bushel

352,00

359,75

0,00

0,00%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

408,00

419,50

-1,25

-0,30%

Lúa mạch

US cent/bushel

228,50

244,25

+0,50

+0,21%

Gạo thô

USD/cwt

9,61

9,62

+0,09

+0,89%

Đậu tương

US cent/bushel

1.004,00

1.018,25

-6,25

-0,61%

Khô đậu tương

USD/tấn

316,60

332,20

-2,40

-0,72%

Dầu đậu tương

US cent/lb

34,66

33,81

-0,04

-0,12%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

504,00

506,10

-1,40

-0,28%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.126,00

2.103,00

+25,00

+1,20%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

137,05

149,55

-1,60

-1,06%

Đường thô

US cent/lb

19,51

20,45

+0,14

+0,69%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

213,00

172,90

-4,95

-2,78%

Bông

US cent/lb

70,65

75,21

+0,27

+0,36%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

329,40

330,00

+5,80

+1,79%

Cao su TOCOM

JPY/kg

248,80

313,60

-19,50

-5,85%

Ethanol CME

USD/gallon

1,56

1,51

+0,01

+0,73%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg