Năng lượng: Giá dầu tăng
Phiên giao dịch cuối tháng, giá dầu tăng sau khi Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu cáo buộc Iran về một chương trình vũ khí hạt nhân bí mật. Kết thúc phiên giao dịch, giá dầu Brent Biển Bắc giao tháng 7/2018 tăng 90 US cent lên 74,69 USD/thùng; dầu thô ngọt nhẹ (WTI) cũng tăng 47 US cent lên 68,57 USD/thùng.
Ông Benjamin Netanyahu tuyên bố có bằng chứng về việc Iran đang “lừa dối” về chương trình vũ khí hạt nhân của mình dù nước này đã ký thỏa thoả thuận hạt nhân mang tính lịch sử với Nhóm P5+1 (gồm 5 nước ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và Đức) vào năm 2015. Ngay sau đó trong cùng ngày, Thứ trưởng Ngoại giao Iran Abbas Araghchi đã lên tiếng phản bác rằng những cáo buộc của Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu đối với Iran nhằm mục đích gây ảnh hưởng đến quyết định sắp tới của Tổng thống Mỹ Donald Trump về thỏa thuận hạt nhân Iran.

Thị trường năng lượng đặc biệt nhạy cảm với bất cứ diễn biến nào liên quan đến thỏa thuận hạt nhân và lệnh cấm vận áp lên Iran. Trong tháng 4 giá dầu thô có lúc đã tăng lên mức cao nhất kể từ cuối năm 2014 do những lo ngại về khả năng gián nguồn cung dầu từ quốc gia Trung Đông này.

Theo nhà phân tích cấp cao Walter Zimmerman của công ty United-ICAP, tuy những phát ngôn của Thủ tướng Netanyahu là yếu tố cơ bản thúc đẩy giá dầu, song yếu tố chính tác động tới giá dầu là câu hỏi Tổng thống Trump sẽ hành động ra sao đối với Iran. Ngày 12/5 ông Donald Trump sẽ quyết định liệu có nối lại lệnh cấm vận áp đặt lên Iran hay không (lệnh cấm vận này đã được gỡ bỏ kể từ sau thỏa thuận hạt nhân được ký kết).

 

Trong khi đó, theo Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ sản lượng dầu thô của nước này tăng 260.000 thùng/ngày lên 10,26 triệu thùng/ngày trong tháng 2, mức cao nhất trong lịch sử.
Thông tin mới nhất về sự bùng nổ dầu đá phiến của Mỹ, tập đoàn dầu khí Marathon đã đồng ý mua đối thủ Andeavor với trị giá hơn 23 tỷ USD. Thỏa thuận này cho phép Marathon tiếp xúc nhiều hơn với dầu đá phiến Mỹ nhờ các hoạt động kho bãi và hậu cần hiện có của Andeavor tại khu vực đá phiến Texas và Bắc Dakota.
Kim loại quý: Giá vàng giảm
Phiên giao dịch cuối tháng, giá vàng giảm xuống mức thấp nhất gần 6 tuần do đồng USD mạnh và căng thẳng trên bán đảo Triều Tiên dịu lại. Vàng giao ngay giảm 0,3% xuống 1.318,14 USD/ounce, trong phiên có lúc giá xuống 1.310,11 USD/ounce, mức thấp nhất kể từ 21/3; vàng kỳ hạn tháng 6 của Mỹ giảm 4,2 USD (0,3%) xuống 1.319,20 USD/ounce.
Lo ngại về địa chính trị dịu lại và chỉ số đồng đô la mạnh là các yếu tố cho đợt mất giá này. Chỉ số đồng USD tăng 0,24% lên 91,77, đồng USD lên mức cao nhất gần 3 tháng so với đồng euro sau khi số liệu của Đức yếu hơn dự kiến. Chứng khoán thế giới theo xu hướng tăng trong tháng 4, lần đầu tiên kể từ tháng 1, bởi lợi nhuận tích cực từ các công ty công nghệ Mỹ và chuỗi thỏa thuận M&A. Giá vàng luôn nhạy cảm với những biến động của đồng USD, do một khi đồng bạc xanh mạnh lên sẽ khiến sức hấp dẫn của các tài sản an toàn như vàng giảm đáng kể.
Lãnh đạo Hàn Quốc và Triều Tiên chiều ngày 27/4 đã ký tuyên bố chung, trong đó tái khẳng định cam kết thúc đẩy phi hạt nhân hóa hoàn toàn bán đảo Triều Tiên, đồng thời nhất trí cắt giảm các vũ khí truyền thống. Tuyên bố chung nêu rõ hai bên sẽ tìm kiếm một thỏa thuận nhằm xây dựng một nền hòa bình lâu dài và bền vững trên bán đảo Triều Tiên. Tuyên bố cũng bao gồm một loạt cam kết liên quan đến việc giải trừ quân bị, chấm dứt các hành động thù địch và biến khu vực biên giới chung thành "khu vực hòa bình".
Trong khi đó, ông George Gero - nhà quản lý cấp cao của công ty chuyên cung cấp dịch vụ tài chính RBC Wealth Management – nhận định rằng giới đầu tư đang chờ đợi những dấu hiệu cho thấy lạm phát tại Mỹ đang đi lên trước khi có những động thái mạnh mẽ hơn trên thị trường vàng.
Tại hội nghị thượng đỉnh ngày 27/4, lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong Un và Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in đã tuyên bố họ sẽ thực hiện các bước để chính thức kết thúc chiến tranh Triều Tiên 1950-53 và hướng tới phi hạt nhân hóa trên bán đảo Triều Tiên.
Đối với các kim loại quý khác, cùng phiên cuối tháng, giá bạc giảm 1,0% xuống 16,33 USD/ounce sau khi rời khỏi mức thấp nhất 3 tuần tại 16,18 USD/ounce trước đó. Bạch kim giảm 0,8% xuống 903,4 USD/ounce, trong phiên đã có lúc giá xuống 903,4 USD/ounce, mức thấp nhất 4 tháng và palađi mất 0,7% xuống 967,2 USD/ounce.
Tính chung cả tháng 4, giá palađi tăng mạnh nhất trong số các kim loại quý chủ yếu, tăng 1,1% sau khi các lệnh trừng phạt của Mỹ đối với nhà sản xuất lớn của Nga đã gây lo ngại về nguồn cung. Cũng trong tháng này bạch kim là kim loại quý giảm mạnh nhất với mức giảm 2,5%.
Kim loại công nghiệp: Giá đồng tăng nhẹ trong tháng 4
Phiên cuối tháng, giá đồng tăng do kỳ vọng nhu cầu tăng từ Trung Quốc, nước tiêu thụ đồng hàng đầu thế giới, sau khi một báo cáo cho thấy nền kinh tế phục hồi bất chấp hoạt động sản xuất hàng tháng giảm nhẹ. Kết thúc phiên này, giá đồng tăng 0,2% lên 6.807 USD/tấn, tiếp tục tăng xa khỏi mức thấp hai tuần hôm 27/4 (phiên 27/4 giá đồng đã mất 2,4%, nhiều nhất kể từ đầu tháng 2).
Tăng trưởng trong lĩnh vực sản xuất của Trung Quốc chỉ giảm nhẹ trong tháng 4 trong một dấu hiệu cho thấy nền kinh tế phục hồi, mặc dù các đơn hàng xuất khẩu chậm lại cho thấy nguy cơ trong tương lai khi tranh cãi thương mại Trung Quốc – Mỹ ồn ào gần đây. Mỹ đã áp đặt thuế nhập khẩu 25% với thép và 10% với nhôm trong tháng 3, nhưng đã miễn thuế tạm thời cho tới 1/5 với EU. Tổng thống Donald Trump sẽ quyết định sau đó sẽ quyết định liệu có miễn thuế vĩnh viễn hay không.
Escondida, công ty khai thác đồng lớn nhất thế giới tại Chile cho biết các cuộc đàm phán hợp đồng ban đầu với công đoàn công ty đã kết thúc mà không đạt được thỏa thuận, thiết lập cho các giai đoạn đàm phán hợp pháp được lên kế hoạch vào đầu tháng 6.
Nông sản: Giá đường giảm, cà phê tăng
Phiên cuối tháng, giá đường thô kỳ hạn tháng 5 tăng 0,3 US cent (2,7%) lên 11,52 US cent/lb, kỳ hạn tháng 7 tăng 0,23 US cent (2%) lên 11,75 USD/lb. Trong khi đó đường trắng giao tháng 8 tăng 3,2 USD (1%) lên 330,8 USD/tấn. Tuy nhiên, tính chung cả tháng giá vẫn giảm. Trong khi việc bảo hiểm rủi ro của nhà sản xuất đã ngăn cản giá tăng mạnh hơn, các đại lý cho rằng đó là sự kết hợp của mua vào dựa theo biểu đồ và việc mua nhẹ trong ngành.
Mặt hàng cà phê phiên cuối tháng biến động trái chiều, trong khi arabica giao tháng 7 tăng 0,4 US cent tương đương 0,3% lên 1,228 USD/lb thì robusta giao cùng kỳ hạn lại giảm 6 USD tương đương 0,34% xuống 1.756 USD/tấn. Tính chung cả tháng, giá cà phê tăng nhẹ.
Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá 2/4

Giá 30/4

Giá 30/4 so với 27/4

Giá 30/4 so với 27/4 (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

64,94

68,57

+0,47

+0,59%

Dầu Brent

USD/thùng

69,34

74,69

+0,90

+1,02%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

42.850,00

47.500,00

+970,00

+2,08%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,73

2,77

+0,01

+0,40%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

201,92

213,05

-0,03

-0,01%

Dầu đốt

US cent/gallon

202,56

215,21

+0,28

+0,13%

Dầu khí

USD/tấn

618,00

655,00

+4,50

+0,69%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

59.460,00

64.340,00

+910,00

+1,43%

Vàng New York

USD/ounce

1.329,60

1.313,40

-5,80

-0,44%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.526,00

4.602,00

-12,00

-0,26%

Bạc New York

USD/ounce

16,34

16,32

-0,08

-0,49%

Bạc TOCOM

JPY/g

56,00

57,30

-0,50

-0,87%

Bạch kim giao ngay

USD/ounce

932,06

902,85

-1,72

-0,19%

Palladium giao ngay

USD/ounce

953,44

965,35

-1,70

-0,18%

Đồng New York

US cent/lb

302,30

302,75

-4,65

-1,51%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

6.714,00

6.807,00

+10,00

+0,15%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

2.004,50

2.255,00

+32,00

+1,44%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

3.274,00

3.127,00

+6,00

+0,19%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

21.100,00

21.175,00

+275,00

+1,32%

Ngô

US cent/bushel

387,75

400,25

-0,50

-0,12%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

451,00

508,25

-2,25

-0,44%

Lúa mạch

US cent/bushel

225,00

236,00

+0,25

+0,11%

Gạo thô

USD/cwt

12,36

13,05

-0,02

-0,15%

Đậu tương

US cent/bushel

1.044,75

1.043,50

-5,00

-0,48%

Khô đậu tương

USD/tấn

384,00

392,00

-1,80

-0,46%

Dầu đậu tương

US cent/lb

31,87

30,62

0,00

0,00%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

522,70

529,60

-2,70

-0,51%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.556,00

2.825,00

-6,00

-0,21%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

118,15

122,80

+0,40

+0,33%

Đường thô

US cent/lb

12,35

11,75

+0,23

+2,00%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

141,10

155,70

+1,85

+1,20%

Bông

US cent/lb

81,46

83,85

+0,01

+0,01%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

515,70

562,10

+4,20

+0,75%

Cao su TOCOM

JPY/kg

182,80

192,70

+7,10

+3,83%

Ethanol CME

USD/gallon

1,47

1,45

0,00

-0,21%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg