Tổng thống Mỹ Donald Trump ngày 30/5 tuyên bố trên mạng xã hội Twitter rằng Washington sẽ áp đặt mức thuế 5% đối với tất cả hàng hóa Mexico nhập khẩu vào Mỹ, bắt đầu từ ngày 10/6 tới và biện pháp này sẽ kéo dài cho tới khi Mexico ngăn chặn hiệu quả "dòng người di cư bất hợp pháp" vào Mỹ.

"Ông chủ" Nhà Trắng cũng cho biết biểu thuế sẽ dần tăng cho tới khi vấn đề nhập cư bất hợp pháp được giải quyết và khi đó thuế sẽ được dỡ bỏ. Ngoại trưởng Mexico Marcelo Ebrard ngày 31/5 thông báo các cơ quan chức năng của nước này và Mỹ sẽ nhóm họp vào ngày 5/6 tới tại Washington nhằm tìm cách giải quyết bất đồng liên quan tới vấn đề này.
Phái đoàn Mexico do ông dẫn đầu sẵn sàng đối thoại và sẽ bảo vệ lợi ích, phẩm giá của đất nước. Ông khẳng định dòng người di cư Trung Mỹ và các nước khác hoặc việc gia tăng tiêu thụ ma túy không thuộc trách nhiệm của Mexico.

Năng lượng: Giá dầu thô giảm mạnh

Phiên giao dịch cuối cùng của tháng 5/2019, giá dầu giảm khá mạnh. Cụ thể, dầu Tây Texas Mỹ (WTI) kỳ hạn giao tháng 7/2019 trên sàn New York giảm 3,09 USD, hay 5,5% so với phiên trước đó, xuống 53,5 USD/thùng, mức thấp nhất kể từ ngày 12/2/2019. Tính chung trong tuần qua, dầu WTI giảm 8,8%, và giảm tổng cộng 16,3% trong tháng 5/2019. Đây là tháng mà giá dầu giảm mạnh nhất kể từ tháng 11/2018, khi giá giảm 22%.
Trong khi đó, trong ngày đáo hạn, dầu Brent hợp đồng giao tháng 7/2019 giảm 2,38 USD, hay 3,6%, xuống 64,49 USD/thùng trên sàn London, mức chốt phiên thấp nhất kể từ ngày 13/2/2019, tính chung cả tuần giảm 6,1% và trong tháng 5 giảm 11,4%.
Việc Mỹ đe doạ áp thuế lên hàng hóa của Mexico gây lo ngại kinh tế toàn cầu sẽ bị ảnh hưởng, kéo nhu cầu dầu mỏ giảm theo.
Theo nhà phân tích về hàng hóa Robbie Fraser tại Schneider Electric, việc Tổng thống Mỹ Donald Trump thông báo kế hoạch áp thuế 5% lên hàng hóa của Mexico liên quan đến vấn đề an ninh biên giới và dự kiến sẽ còn tăng lên các mức cao hơn sẽ gây thêm những lo ngại về thương mại và kinh tế, trong khi cũng tiềm ẩn nguy cơ tác động đến dầu thô, khi Mexico là đối tác thương mại chủ chốt về năng lượng của Mỹ.
Trong khi đó, theo tờ Wall Street Journal, việc Mỹ có thể cho phép một số nước mà khối lượng nhập khẩu vẫn chưa đến mức trần được phép tiếp tục nhập khẩu dầu của Iran, cho dù quy chế miễn trừ trừng phạt đã kết thúc vào đầu tháng Năm, góp phần gây thêm sức ép lên giá dầu.
Một khảo sát của Reuters cho thấy, nước xuất khẩu dầu hàng đầu thế giới là Saudi Arabia đã tăng sản lượng trong tháng Năm, nhưng không đủ để bù vào phần sụt giảm từ phía Iran sau khi Mỹ siết chặt trừng phạt nước này. Ngoài ra, Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) đạt sản lượng 30,17 triệu thùng/ngày trong tháng Năm, giảm 60.000 thùng/ngày so với tháng Tư, mức thấp nhất kể từ năm 2015.
Bên cạnh đó, có thêm dấu hiệu cho thấy các nguồn cung dầu của Mỹ ổn định, tiếp tục làm phức tạp thêm nỗ lực của OPEC trong việc cắt giảm sản lượng. Cơ quan Thông tin Năng lượng của Mỹ mới đây cho biết nguồn cung dầu thô của nước này giảm 300.000 thùng trong tuần kết thúc ngày 24/5, giảm nhẹ hơn nhiều so với dự kiến và ước tính sản lượng trong nước tăng 100.000 thùng, lên 12,3 triệu thùng/ngày.
Kim loại quý: Giá vàng đi lên
Giá vàng tiếp tục tăng trong phiên cuối tuần cũng bởi Washington đe doạ áp thuế với tất cả hàng hoá Mexico nhập khẩu vào Mỹ. Kết thúc phiên này, vàng giao ngay tăng 1,3% lên 1.305,17 USD/ounce, trước đó đã đạt 1.306,64 USD, cao nhất kể từ ngày 11/4/2019, tính chung trong tuần là tuần thứ 2 liên tiếp tăng, và tăng tổng cộng 1,7% trong tháng 5/2019. Vàng kỳ hạn tháng 8/2019 tăng 1,9% lên 1.311,1 USD/ounce trong phiên cuối tuần.
Bên cạnh việc các nhà đầu tư đẩy mạnh hoạt động mua vào khi quan hệ thương mại Mỹ-Mexico xuất hiện căng thẳng, giá vàng cũng tăng bởi đồng bạc xanh yếu đi. Chỉ số đồng USD so với sáu đồng tiền chủ chốt khác trong phiên cuối tháng giảm 0,32% xuống 97,82.
Tuần qua thị trường vàng biến động khá mạnh. Nền kinh tế Mỹ phát đi tín hiệu bi quan làm gia tăng đồn đoán Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) hạ lãi suất đẩy giá vàng thế giới lên mức đỉnh của hơn một tuần trong phiên 27/5. Tuy nhiên, giá vàng đã không duy trì được lợi thế này khi ngay phiên 28/5 sau đó, giá kim loại quý bị đẩy khỏi mức đỉnh vừa đạt được do sự vững giá của đồng USD, tài sản an toàn “yêu thích” hơn của giới đầu tư vì tình hình bất ổn liên quan tới căng thẳng thương mại Mỹ-Trung. Đồng USD tăng 0,3% so với giỏ sáu đồng tiền chính trên thị trường, vì mối lo ngại về căng thẳng thương mại và chính trị.
Kim loại công nghiệp: Giá đồng tháng 5 giảm mạnh nhất kể từ 2015
Giá đồng tháng 5/2019 giảm mạnh nhất kể từ tháng 11/2015, do số liệu sản xuất của Trung Quốc suy yếu và Mỹ đe dọa áp thuế quan với hàng hóa của Mexico gây ra lo sợ rằng tranh chấp thương mại sẽ gây thiệt hại cho kinh tế toàn cầu cũng như nhu cầu kim loại.
Giá đồng trên sàn giao dịch kim loại London (LME) chốt phiên cuối thánggiảm 0,4% xuống 5.830 USD/tấn. Kim loại này đã giảm 9% trong tháng này, tháng giảm thứ 3 liên tiếp.
Hầu hết các kim loại công nghiệp khác cũng giảm trong tháng 5, kẽm đã có tháng giảm gần 11%, giảm mạnh nhất kể từ năm 2012.
Tuy nhiên, những vấn đề về nguồn cung có thể khiến thị trường đồng thắt chặt hơn, hỗ trợ giá. Nhà sản xuất đồng hàng đầu thế giới Codelco báo cáo sản lượng đồng trong quý 1/2019 giảm 18% so với cùng kỳ năm trước trong bối cảnh lo ngại về đình công.
Giá thép cây tại Trung Quốc cũng do các nhà đầu tư lo lắng về dư cung trong bối cảnh quá trình giảm lượng tồn kho chậm và sản lượng tại các nhà máy đang tăng.
Giá thép cây Thượng Hải giảm 1,5% xuống 3.750 CNY (543,16 USD)/tấn khi thị trường đóng cửa. Tính chung cả tuần giá thép đã giảm gần 3% và là tuần giảm mạnh nhất trong 22 tuần. Giá thép cuộn cán nóng giảm 0,9% xuống 3.625 CNY/tấn.
Giá nguyên liệu thô sản xuất thép cũng giảm cùng với các sản phẩm thép. Hợp đồng quặng sắt kỳ hạn tháng 9 mất 1,6% xuống 727 CNY/tấn.
Các nhà phân tích từ Jefferies dự đoán giá quặng sắt ở mức cao trong ít nhất 12 tháng tới do ảnh hưởng của những cú sốc nguồn cung trong thị trường này.
Dự trữ quặng sắt đã nhập khẩu tại các cảng của Trung Quốc giảm xuống 127,8 triệu tấn, thấp nhất kể từ tháng 2/2017.
Nông sản: Giá cà phê và đường đều tăng trong tháng 5/2019
Giá cà phê arabica kỳ hạn tháng 7 kết thúc phiên cuối tháng tăng 2,25 US cent hay 2,2% xuống 1,046 USD/lb, cao nhất kể từ ngày 7/2. Hợp đồng này đã tăng khoảng 13,9% trong tháng 5, là một trong số các mặt hàng diễn biến tốt nhất trong tháng này.
Đồng real của Brazil mạnh hơn làm giảm lợi nhuận tính theo đồng nội tệ của các mặt hàng định giá bằng USD như cà phê và đường, không khuyến khích nông dân bán ra.
Cà phê cũng được củng cố trong những phiên gần đây bởi lo ngại thời tiết lạnh và vấn đề chất lượng ở Brazil.
Cà phê robusta kỳ hạn tháng 7 trên sàn New York trong phiên cuối tháng cũng tăng 22 USD hay 1,5% lên 1.478 USD/tấn. Hợp đồng này tăng 6,5% trong tháng 5 sau 3 tháng sụt giảm liên tiếp.
Giá đường thô kỳ hạn tháng 7 đóng cửa phiên cuối tháng tăng 0,34 US cent hay 2,9% lên 11,76 US cent/lb. Hợp đồng này tăng 0,9% trong tháng 5 sau khi sụt giảm trong 2 tháng liên tiếp.
Ấn Độ, một trong các nhà sản xuất đường lớn nhất thế giới, khả năng có lượng mưa trung bình trong năm nay, điều này sẽ hỗ trợ cho sản xuất nông nghiệp và tăng trưởng kinh tế.
Đường trắng kỳ hạn tháng 8 tăng 6,7 USD hay 2,1% lên 330,6 USD/tấn. Giá tăng 6,5% trong tháng 5.
Giá cao su trên sàn giao dịch hàng hóa Tokyo (TOCOM) đóng cửa ổn định, khi nguồn cung eo hẹp được bù đắp bởi lo lắng rằng căng thẳng thương mại sẽ khiến nhu cầu giảm.
Hợp đồng cao su TOCOM kỳ hạn tháng 11 đóng cửa ổn định tại 194,2 JPY (1,79 USD)/kg. Giá đã tăng 1,3% trong tuần qua và tăng 2,6% trong tháng.
Giá cao su giao tháng 9 trên sàn giao dịch kỳ hạn Thượng Hải tăng 150 CNY đóng cửa tại 12.250 CNY (1.776 USD)/tấn.
Jiong Gu, nhà phân tích tại Yutaka Shoji cho biết giá giao ngay tăng ở Thái Lan do thời tiết khô hạn trong đầu tháng 5 đã thúc đẩy hợp đồng cao su TOCOM tăng trong tuần nay. Nhưng giá cao su TOCOM có thể trở lại yếu hơn trong tháng tới do dự báo sản lượng cao su tại Thái Lan tăng.
Dự trữ cao su tại kho của sàn giao dịch Thượng Hải tăng 0,2% so với một tuần trước.
Giá hàng hóa thế giới

Mặt hàng

ĐVT

Giá 30/4/2019

Giá 25/5/2019

Giá 31/5/2019

31/5 so với 30/5

31/5 so với 30/5 (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

63,20

58,63

53,50

-3,09

-5,46%

Dầu Brent

USD/thùng

71,73

68,69

61,99

-3,34

-5,11%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

47.060,00

43.230,00

38,900,00

-2,120,00

-5,17%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,62

2,60

2,45

-0,09

-3,65%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

205,48

193,45

177,14

-8,28

-4,47%

Dầu đốt

US cent/gallon

207,73

197,13

184,04

-7,79

-4,06%

Dầu khí

USD/tấn

638,25

604,75

577,50

-20,50

-3,43%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

64.460,00

59.700,00

56,070,00

-1,960,00

-3,38%

Vàng New York

USD/ounce

1.283,80

1.289,20

1,311,10

+18,70

+1,45%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.612,00

4.505,00

4,540,00

+22,00

+0,49%

Bạc New York

USD/ounce

14,75

14,56

14,57

+0,08

+0,52%

Bạc TOCOM

JPY/g

54,20

51,80

51,20

+0,20

+0,39%

Bạch kim

USD/ounce

869,66

806,05

793,72

-2,53

-0,32%

Palađi

USD/ounce

1.346,04

1.335,68

1,328,30

-40,97

-2,99%

Đồng New York

US cent/lb

294.70

269,95

264,00

-1,40

-0,53%

Đồng LME

USD/tấn

6,509.00

5.955,00

5,830,00

-22,00

-0,38%

Nhôm LME

USD/tấn

1,911.00

1.800,00

1,794,50

+12,50

+0,70%

Kẽm LME

USD/tấn

2,778.00

2.560,00

2,524,00

-37,00

-1,44%

Thiếc LME

USD/tấn

21,650.00

19.300,00

18,715,00

-60,00

-0,32%

Ngô

US cent/bushel

363,25

404,25

427,00

-9,25

-2,12%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

432,00

489,50

503,00

-11,50

-2,24%

Lúa mạch

US cent/bushel

294,25

308,50

314,50

-3,50

-1,10%

Gạo thô

USD/cwt

10,49

11,56

11,46

-0,20

-1,76%

Đậu tương

US cent/bushel

845,50

829,75

877,75

-11,25

-1,27%

Khô đậu tương

USD/tấn

298,00

300,50

321,30

-6,10

-1,86%

Dầu đậu tương

US cent/lb

27,59

27,01

27,59

-0,19

-0,68%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

436,20

444,40

459,50

+0,40

+0,09%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.314,00

2.467,00

2,400,00

-28,00

-1,15%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

91,05

93,30

104,60

+2,25

+2,20%

Đường thô

US cent/lb

12,12

11,66

12,10

+0,34

+2,89%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

94,15

100,95

108,40

+3,85

+3,68%

Bông

US cent/lb

75,67

68,39

68,08

-1,26

-1,82%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

338,10

326,50

305,50

-3,80

-1,23%

Cao su TOCOM

JPY/kg

190,30

192,50

194,10

-0,10

-0,05%

Ethanol CME

USD/gallon

1,31

1,40

1,51

-0,03

-1,88%

Nguồn: VITIC/Bloomberg, Reuters