Năng lượng: Giá dầu tăng
Phiên giao dịch cuối cùng của tháng 7/2019, giá dầu tăng sau khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) quyết định giảm lãi suất và tồn trữ dầu thô của Mỹ giảm nhiều hơn dự kiến.
Kết thúc phiên này, dầu ngọt nhẹ (WTI) kỳ hạn tháng 9/2019 trên sàn New York tăng 0,53 USD lên 58,58 USD/thùng; trong khi đó dầu Brent cùng kỳ hạn trên sàn London tăng 0,45 USD lên 65,17 USD/thùng.
Tính chung tháng 7/2019, giá dầu WTI tăng 0,2%, trong khi dầu Brent tăng 2,1%.
Sau cuộc họp kéo dài trong hai ngày 30-31/7/2019, Fed đã quyết định cắt giảm lãi suất cơ bản đi 0,25%, từ biên độ 2,25-2,5% xuống 2-2,25% trong bối cảnh nguy cơ bất ổn kinh tế gia tăng. Đây lần giảm đầu tiên của cơ quan này kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, đồng thời cho biết sẽ có "hành động phù hợp để duy trì tăng trưởng ổn định".
Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ cho biết, trong tuần kết thúc vào ngày 26/7/2019, tồn trữ dầu thô Mỹ giảm 8,5 triệu thùng trong tuần vừa qua, xuống 436,5 triệu thùng (không tính dự trữ dầu chiến lược), là tuần giảm thứ 7 liên tiếp, vượt xa mức dự báo của các nhà phân tích là giảm 2,6 triệu thùng. Tồn trữ giảm ngay cả khi sản lượng dầu ngoài khơi đã được khôi phục trở lại sau bão Barry. Sản lượng dầu Mỹ đã hồi phục lên 12,2 triệu thùng/ngày, từ 11,3 triệu gần đây. Tồn trữ xăng cũng giảm 1,8 triệu thùng, trong khi tồn trữ các sản phẩm chưng cất giảm 894.000 thùng.
Một số thông tin khác cũng tác động tích cực lên thị trường dầu mỏ. Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ cho hay sản lượng dầu thô của nước này tháng 5/2019 đã giảm từ mức cao kỳ lục, giảm 26.000 thùng/ngày xuống 12,11 triệu thùng/ngày. Sản lượng dầu của OPEC tháng 7/2019 đã chạm mức thấp nhất 8 năm do Saudi Arabia tự nguyện giảm mạnh sản lượng giữa lúc Mỹ trừng phạt Iran và một số nước khác của nhóm gặp sự cố trong sản xuất. Giếng dầu lớn nhất của Syria – Sharara – phải ngừng hoạt động vào ngày 30/7/2019 sau khi một van trên đường ống dẫn nối liền tới nhà máy dầu Zawiya gặp sự cố.
Kết quả một cuộc thăm dò mới đây của hãng tin Reuters cho thấy giá sẽ nằm trong khoảng như hiện tại từ nay tới cuối năm bởi kinh tế thế giới tăng trưởng chậm lại và nhu cầu dầu yếu đi do xung đột thương mại kéo dài. Mỹ và Trung Quốc vừa kết thúc một cuộc đàm phán mà không có tiến triển rõ rệt nào, và đã hoàn cuộc họp tiếp theo tới tháng 9/2019. Bên cạnh đó, nguồn cung dầu toàn cầu nhìn chung vẫn lớn mặc dù sản lượng của OPEC giảm và Mỹ trừng phạt Iran và Venezuela.
Kim loại quý: Giá vàng tăng nhẹ trong tháng 7
Giá vàng giảm nhẹ trong phiên cuối tháng sau khi Fed hạ lãi suất đúng như dự đoán và triển vọng cơ quan tài chính Mỹ sẽ giữ thái độ "ôn hòa" trong các quyết định sắp tới của mình.
Vàng giao ngay cuối phiên giảm 0,8% xuống 1.417 USD/ounce, trong phiên có lúc giảm 1% xuống 1.415,87 USD. Vàng kỳ hạn tháng 8/2019 cũng giảm 0,8% xuống 1.418,30 USD/ounce; kỳ hạn tháng 12/2019 giảm 4 USD (0,08%) xuống 1.420,4 USD/ounce.
Tuy nhiên, hy vọng Fed tăng lãi suất đã khiến vàng tăng giá trong nhiều phiên vừa qua để kết thúc một tháng tăng 0,6%.
Chỉ số đồng USD, thước đo sức mạnh của đồng bạc xanh so với 6 đồng tiền chủ chốt khác, đã tăng 0,21% lên 98,26 trong phiên vừa qua. Đáng chú ý, trong phiên, đồng USD cũng leo lên mức cao nhất trong hai năm so với đồng euro.
Vàng thường biến động ngược chiều với đồng USD khi đà tăng của đồng tiền này khiến vàng trở nên đắt đỏ hơn với các nhà đầu tư nắm giữ đồng tiền khác.
Về những kim loại quý khác, giá bạc phiên vừa qua giảm 0,9% xuống 16,43 USD/ounce, trong khi bạch kim tăng 0,9% lên 873,85/ounce, cả hai kim loại này đều tăng trong tháng 7 và là tháng tăng thứ 2 liên tiếp. Palađi phiên vừa qua tăng 0,7% lên 1.537 USD/ounce.
Kim loại công nghiệp: Giá sắt thép tăng trong tháng 7/2019
Phiên cuối tháng, giá chì hồi phục từ mức thấp nhất 2 tuần khi các nhà đầu tư tăng mua sau khi giá giảm mạnh ở phiên trước.
Chì đã tăng giá 14% trong 3 tuần đầu tháng 7/2019, lên mức cao nhất 4 tháng vào ngày 25/7/2019, nhưng sau đó giảm dần do lượng chì lưu kho trên sàn LME tăng lên và triển vọng nguồn cung cũng tăng.
Phiên 31/7/2019, chì giao sau 3 tháng trên sàn LME có lúc chỉ 1.981,5 USD/tấn, thấp nhất kể từ 17/7/2019, trước khi hồi phục để tăng 0,6% lên 2.010 USD/tấn vào cuối phiên.
Lượng chì lưu kho trên sàn London đã tăng 11.725 tấn lên 79.050 tấn.
Các kim loại cơ bản khác hầu hết cũng giảm trong phiên này. Cụ thể, giá đồng giảm 0,4% xuống 5.927 USD/tấn, nhôm giảm xuống 1.800 USD/tấn, kẽm giảm 0,7% xuống 2.444 USD/tấn và thiếc giảm 0,9% xuống17.300 USD/tấn. Riêng nickel tăng 0,8% lên 14.480 USD/tấn.
Giá sắt thép trên thị trường Trung Quốc phiên vừa qua chỉ thay đổi chút ít sau khi kết quả một cuộc khảo sát chính thức cho thấy hoạt động sản xuất của các nhà máy ở nước này tháng 7/2019 giảm tháng thứ 3 liên tiếp và dự báo sẽ còn tiếp tục giảm nữa.
Kết thúc phiên giao dịch cuối cùng của tháng 7/2019, giá thép cây kỳ hạn tháng 10/2019 trên sàn Thượng Hải giảm 0,1% xuống 3.891 CNY (565,25 USD)/tấn, mặc dù lúc đầu phiên tăng 1%. Thép cuộn cán nóng tăng nhẹ 0,2% lên 3.806 CNY/tấn, sau khi có thời điểm đạt 3.840 CNY.
Quặng sắt kỳ hạn tháng 1/2020 trên sàn Đại Liên vào cuối phiên giảm 0,1% xuống 763 CNY/tấn, mặc dù đầu phiên có lúc đạt 789,5 CNY, cao nhất trong vòng hơn 5 năm. Tính chung cả tháng 7/2019, giá quặng sắt tăng tháng thứ 8 liên tiếp bởi nhà đầu tư lo ngại nguồn cung sẽ yếu trong nhiều tháng tới.

Nông sản: Giá đường và cà phê đều giảm trong tháng 7/2019, riêng dầu cọ tăng

Giá cà phê arabica kỳ hạn tháng 9/2019 trong phiên vừa qua tăng 0,15 US cent tương đương 0,2% lên 99,65 US cent/lb, sau khi có lúc chạm mức thấp nhất 6 tuần là 98,40 US cent. Nguyên nhân bởi đồng real Brazil mạnh lên và dự báo nước này sẽ có sương giá. Tuy nhiên tính chung cả tháng 7/2019, arabica giảm 7,9%, là tháng giảm thứ 4 trong năm nay. Tuy nhiên, xu hướng giảm có thể sắp kết thúc vì giá thấp kéo dài trong thời gian qua đã bắt đầu khiến sản lượng giảm.
Robusta trong phiên vừa qua cũng giảm 16 USD tương đương 1,2% xuống 1.338 USD/tấn.
Giá đường thô tăng 0,06 US cent tương đương 0,5% trong phiên cuối tháng, lên 12,21 US cent/lb, được hỗ trợ bởi giá dầu tăng và khô hạn ở Ấn Độ. Tuy nhiên, tính chung cả tháng, giá giảm 0,9%. Đường trắng phiên này cũng tăng 1 USD tương đương 0,3% lên 324 USD/tấn.
Giá dầu cọ kỳ hạn tháng 10/2019 trên sàn Bursa (Malaysia) kết thúc phiên vừa qua tăng 0,4% lên 2.070 ringgit (501,82 USD)/tấn, là phiên thứ 6 tăng giá trong vòng 7 phiên vừa qua. Tính chung trong tháng 7/2019, giá tăng 6,1% so với tháng 6, là lần đầu tiên kể từ tháng 1/2019.
Đồ thị phân tích kỹ thuật cho thấy giá có thể sẽ tiếp tục tăng, lên mức khoảng 2.076-2.083 ringgit/tấn.

Giá cao su trên sàn Tokyo tiếp tục giảm xuống mức thấp nhất trong vòng 2 tuần trong phiên cuối tháng giữa bối cảnh nhà đầu tư lo ngại Indonesia và Malaysia có thể tăng xuất khẩu sau một thời gian kiềm chế.

Kết thúc phiên, cao su kỳ hạn tháng 1/2020 trên sàn TOCOM giảm 0,9 JPY tương đương 0,5% xuống 177 JPY (1,63 USD)/kg, trong phiên có lúc chỉ 174,5 JPY, thấp nhất kể từ 16/7/2019.
Giá cao su trên sàn Singapore cũng giảm trong phiên vừa qua. Cụ thể, hợp đồng kỳ hạn tháng 8/2019 giảm 1,1% xuống 133,2 US cent/kg – thấp gần nhất kể từ 15/2/2019.
Đi ngược xu hướng này, giá cao su trên sàn Thượng Hải tăng trong phiên vừa qua, theo đó hợp đồng kỳ hạn tháng 9/2019 tăng 85 CNY lên 10.740 CNY/tấn.
Giá hàng hóa thế giới

Mặt hàng

ĐVT

Giá 29/6

Giá 31/7/2019

31/7 so với 30/7

31/7 so với 30/7 (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

58,47

58,58

+0,53

Dầu Brent

USD/thùng

64,74

65,17

+0,45

+0,70%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

40.870,00

40.530,00

-500,00

-1,22%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,31

2,23

+0,00

+0,04%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

189,66

190,20

+0,51

+0,27%

Dầu đốt

US cent/gallon

193,94

195,50

+1,10

+0,57%

Dầu khí

USD/tấn

595,00

601,75

+9,50

+1,60%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

58.920,00

58.710,00

-290,00

-0,49%

Vàng New York

USD/ounce

1.413,70

1.426,60

-11,20

-0,78%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.868,00

4.931,00

-48,00

-0,96%

Bạc New York

USD/ounce

15,34

16,29

-0,11

-0,70%

Bạc TOCOM

JPY/g

53,50

56,10

-1,20

-2,09%

Bạch kim

USD/ounce

834,75

865,00

+0,25

+0,03%

Palađi

USD/ounce

1.537,65

1.521,99

+2,08

+0,14%

Đồng New York

US cent/lb

271,35

266,35

-0,25

-0,09%

Đồng LME

USD/tấn

5.993,00

5.927,00

-21,00

-0,35%

Nhôm LME

USD/tấn

1.800,00

1.799,00

-4,00

-0,22%

Kẽm LME

USD/tấn

2.495,00

2.444,00

-16,00

-0,65%

Thiếc LME

USD/tấn

18.825,00

17.315,00

-135,00

-0,77%

Ngô

US cent/bushel

431,50

410,00

-11,00

-2,61%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

527,25

487,25

-10,00

-2,01%

Lúa mạch

US cent/bushel

276,50

263,75

0,00

0,00%

Gạo thô

USD/cwt

11,58

11,95

-0,15

-1,24%

Đậu tương

US cent/bushel

923,00

881,50

-15,25

-1,70%

Khô đậu tương

USD/tấn

322,90

305,40

-2,30

-0,75%

Dầu đậu tương

US cent/lb

28,83

28,23

-0,60

-2,08%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

455,90

443,50

-4,90

-1,09%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.425,00

2.345,00

-34,00

-1,43%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

109,45

99,65

+0,15

+0,15%

Đường thô

US cent/lb

12,62

12,21

+0,06

+0,49%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

104,05

103,45

+1,10

+1,07%

Bông

US cent/lb

66,08

63,84

+0,48

+0,76%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

375,10

343,90

-5,10

-1,46%

Cao su TOCOM

JPY/kg

192,90

176,10

-0,90

-0,51%

Ethanol CME

USD/gallon

1,53

1,51

-0,05

-3,48%

Nguồn: VITIC/Bloomberg, Reuters