Năng lượng: Giá dầu thô giảm mạnh, khí đốt tăng mạnh
Giá dầu thô giảm trong suốt tuần qua do lo ngại tăng trưởng nhu cầu dầu trên toàn cầu sụt giảm, nhất là ở Trung Quốc.
Phiên cuối tuần, dầu ngọt nhẹ (WTI) giảm 48 US cent tương đương 0,8% xuống 60,19 USD/thùng, mức đóng cửa thấp nhất kể từ ngày 8/3/2018. Tính chung cả tuần, giá giảm 4,7%, là tuần thứ 5 liên tiếp giảm. Dầu WTI đã giảm 10 phiên liên tiếp - dài nhất kể từ tháng 7/1984. Dầu Brent cùng phiên giảm 47 US cent tương đương 0,7% xuống 70,18 USD/thùng, tính chung cả tuần giảm 3,6%. Như vậy, giá dầu đã trở về sát với mức của đầu năm 2018.
Matt Cook - Phó giám đốc biên tập thị trường dầu thô và nhiên liệu Mỹ tại S&P Global Platts, nhận định: “Đà lao dốc trong các phiên gần đây là sự phản ánh nguồn cung của Mỹ tăng trong những tuần qua. Cụ thể, dự trữ dầu thô tại Mỹ đã tăng 7 tuần liên tục”.
Dữ liệu từ Baker Hughes công bố ngày 9/11/2018 cho biết, số giàn khoan dầu đang hoạt động tại Mỹ cộng 12 giàn lên 886 giàn trong tuần này - mức tăng mạnh nhất kể từ tháng 5/2018.
Trong khi đó, S&P Global Platts ngày 8/11 cho hay, Ủy ban Giám sát hỗn hợp các thành viên trong và ngoài OPEC (JMMC) có thể đề xuất cắt giảm sản lượng 1 triệu thùng/ngày để bù đắp đà tăng sản lượng từ Nga và Saudi Arabia.
Lệnh trừng phạt của Mỹ đối với Iran đã chính thức có hiệu lực, tuy nhiên Washington tạm thời miễn trừ cho 8 nước được phép tiếp tục mua dầu từ Tehran. Tổng thống Mỹ Donald Trump nói rằng ông muốn áp đặt trừng phạt sản xuất dầu mỏ của Iran một cách từ từ, hạn chế bớt những quan ngại về khả năng gây sốc đối với các thị trường năng lượng và khiến giá cả toàn cầu tăng vọt. Động thái này của Washington khiến giới phân tích tin rằng sự suy giảm nguồn cung dầu từ Iran sẽ không nghiêm trọng như dự báo.
Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) tuần trước cho biết, dự trữ dầu thô đã tăng 5,8 triệu thùng, cao hơn gấp đôi dự kiến của các nhà phân tích trước đó. Sản lượng dầu của Mỹ cũng chạm mức kỷ lục của tuần khi tăng lên 11,6 triệu thùng/ngày.
Mặc dù lượng dầu xuất khẩu của Iran dự kiến sẽ sụt giảm do lệnh trừng phạt của Mỹ, song báo cáo từ Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) và các dự báo khác cho rằng thị trường dầu mỏ toàn cầu vẫn sẽ dư cung trong năm 2019, giữa lúc nhu cầu dầu tăng chậm lại.
Giá khí đốt tự nhiên trong phiên cuối tuần tăng hơn 5% lên mức cao nhất kể từ tháng 12/2016 do thời tiết ở Mỹ dự báo lạnh hơn trong tuần tới, thúc đẩy nhu cầu sưởi ấm, trong khi dự trữ thấp hơn 16% so với mức bình thường của thời điểm này trong năm và thấp nhất trong tuần kể từ năm 2003, gây ra lo lắng về khả năng thiếu khí đốt tại một số vùng trong mùa đông này.
Giá khí đốt kỳ hạn giao tháng 12/2018 trên sàn thương mại New York tăng 17,6 cent, tương đương 5%, lên mức 3,719 USD/mmBtu. Tính chung cả tuần, giá đã tăng khoảng 13%, tuần tăng mạnh nhất kể từ tháng 1/2018.
Kim loại quý: Giá vàng giảm
Phiên giao dịch cuối tuần, giá vàng giảm tiếp và vẫn quanh quẩn mức thấp nhất 1 tháng do USD mạnh lên khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) giữ nguyên lập trường tiếp tục tăng lãi suất.
Kết thúc phiên cuối tuần, giá vàng giao ngay giảm 1,3%, xuống 1.207,78 USD/ounce, trong phiên có lúc xuống chỉ 1.206,13 USD/ounce, thấp nhất kể từ ngày 11/10. Tính chung cả tuần, vàng giao ngay giảm 2%, mạnh nhất kể từ 17/8/2018. Trong khi đó, giá vàng giao tháng 12/2018 cũng giảm 16,50 USD (tương đương gần 1,4%) xuống 1.208,60 USD/ounce. Tính chung cả tuần qua, giá vàng kỳ hạn cũng mất gần 2%, chạm mức thấp nhất kể từ ngày 10/10/2018.
Phiên này, chỉ số đồng USD tăng 0,2%. Tính từ đầu năm nay, chỉ số này đã tăng 5,2%, chủ yếu nhờ vào chính sách thắt chặt tiền tệ của Fed. Rob Haworth, chiến lược gia đầu tư cấp cao tại U.S. Bank, nhận định: “Quan điểm của Fed về việc nâng lãi suất vào tháng 12 tới không thay đổi trong báo cáo từ cuộc họp chính sách ngày 8/11/2018. Lãi suất tăng cao, dựa theo nhận định từ Fed, cùng với đà tăng của đồng USD đã duy trì sức ép lên giá vàng”.
Cũng trong phiên cuối tuần, giá bạc đóng cửa giảm 1,7% xuống 14,16 USD/ounce, sau khi chạm mức thấp nhất kể từ ngày 18/9/2018, đồng thời ghi dấu tuần giảm mạnh nhất kể từ tháng 2/2018 khi hạ hơn 4%. Giá bạch kim cũng mất 1,3% xuống 853,30 USD/ounce, trong khi giá palađi giảm gần 0,7% xuống 1.116 USD/ounce.
Kim loại cơ bản: Giá giảm
Phiên cuối tuần, giá kim loại cơ bản đồng loạt giảm, ngoại trừ kẽm.Giá nickel sụt giảm mạnh nhất xuống mức thấp nhất trong gần 11 tháng do hoạt động bán của các nhà đầu cơ xuất phát từ lo ngại về lãi suất của Mỹ cao hơn và tăng trưởng kinh tế Trung Quốc chậm lại.
Nickel kỳ hạn 3 tháng tại LME chốt phiên giảm 2,7% xuống còn 11,460 USD/tấn, mức thấp nhất kể từ ngày 15/12/2018. Giá đồng kỳ hạn 3 tháng giảm 1,6% xuống mức 6,056 USD/tấn, mức thấp nhất trong một tuần; tính chung 1 tuần, giá giảm 3%, mức thấp nhất kể từ 17/8/2018. Giá chì giảm 1,4% xuống 1.977 USD/tấn. Giá nhôm giảm 1,8% xuống còn 1.955 USD/tấn trong khi giá thiếc giảm 0,9% xuống còn 19.150 USD/tấn. Riêng có giá kẽm đã cắt lỗ tăng nhẹ 0,02% lên 2.523 USD/tấn.
Nông sản: Giá cà phê arabica và đường giảm
Phiên cuối tuần, giá cà phê arabica giao tháng 3/2019 trên sàn New York giảm 2,7 US cent tương đương 2,25% xuống 1,1750 USD/lb; tính chung cả tuần, giá giảm 5,1%. Đồng USD mạnh lên đang gây áp lực lên giá mặt hàng hàng này.
Robusta giao tháng 1/2019 cùng phiên tăng 1 USD tương đương 0,1% lên 1.685 USD/tấn. Các thương gia nhận định thị trường robusta physical có thể thiếu cung trong ngắn hạn trước khi nguồn cung từ Việt Nam tăng lên.
Tùy viên Bộ Nông nghiệp Mỹ ở Brazil đã điều chỉnh dự báo về sản lượng cua nước này niên vụ 2018/2019 xuống 1,59 triệu bao, từ mức 2,58 triệu bao dự báo trước đây. Tổ chức Cà phê Quốc tế (ICO) cũng hạ dự báo về mức dư thừa xuống 1,59 triệu bao, từ mức 2,58 triệu bao đưa ra trước đây.
Đối với mặt hàng đường, đường thô giao tháng 3 năm sau giảm 0,11 US cent tương đương 0,9% xuống 12,73 US cent/lb vào cuối phiên chốt tuần, sau khi có lúc thấp nhất 4 tuần là 12,65 US cent. Tính chung cả tuần, giá giảm 5,3%, mạnh nhất kể từ tháng 1/2018. Trong khi đó, đường trắng giao tháng 12/2018 tăng 1,6 USD tương đương 0,5% lên 344,10 USD/tấn, nhưng tính chung cả tuần vẫn gi8arm 4%, là tuần giảm thứ 3 liên tiếp.
Giá cao su tại Tokyo tăng nhẹ trong phiên giao dịch cuối tuần sau khi chạm mức thấp nhất 26 tháng hồi đầu tuần do lo ngại nhu cầu yếu. Doanh số bán ô tô của Trung Quốc đã giảm 11,7% trong tháng 10 so với cùng kỳ năm ngoái.
Tại Tokyo, giá cao su kỳ hạn tháng 4/2019 tăng 1,6 JPY đạt 161 JPY(1,41 USD)/kg. Song tính chung cả tuần, giá đã giảm 0,9%. Giá cao su TSR 20 kỳ hạn giao tháng 5 đóng cửa không đổi ở mức 146,1 JPY/ kg. Giá cao su kỳ hạn tháng 1/2019 tại Thượng Hải giảm 20 USD còn 11.300 CNY(1.627 USD)/tấn. Giá cao su kỳ hạn giao tháng 12/2018 trên sàn SICOM của Singapore chốt phiên đạt 124 Us cent/kg. 
Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá 3/11

Giá 10/11

10/11 so với 9/11

10/11 so với 9/11 (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

63,14

60,19

-0,48

-0,79%

Dầu Brent

USD/thùng

72,83

70,18

-0,47

-0,67%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

49.670,00

49.000,00

-330,00

-0,67%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

3,28

3,72

+0,18

+4,97%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

170,83

162,14

-2,29

-1,39%

Dầu đốt

US cent/gallon

217,28

217,28

+0,45

+0,21%

Dầu khí

USD/tấn

667,75

656,50

-13,25

-1,98%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

65.760,00

65.490,00

-500,00

-0,76%

Vàng New York

USD/ounce

1.233,30

1.208,60

-16,50

-1,35%

Vàng Tokyo

JPY/g

4.470,00

4.408,00

-39,00

-0,88%

Bạc New York

USD/ounce

14,76

14,14

-0,28

-1,96%

Bạc TOCOM

JPY/g

53,70

51,60

-1,20

-2,27%

Bạch kim

USD/ounce

868,21

853,11

-11,06

-1,28%

Palladium

USD/ounce

1.118,82

1.116,69

-10,78

-0,96%

Đồng New York

US cent/lb

280,70

268,45

-5,15

-1,88%

Đồng LME

USD/tấn

6.283,00

6.056,00

-99,00

-1,61%

Nhôm LME

USD/tấn

1.973,00

1.954,00

-36,00

-1,81%

Kẽm LME

USD/tấn

2.552,50

2.523,00

+0,50

+0,02%

Thiếc LME

USD/tấn

19.100,00

19.150,00

-175,00

-0,91%

Ngô

US cent/bushel

371,25

369,75

-3,75

-1,00%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

508,75

502,00

-5,75

-1,13%

Lúa mạch

US cent/bushel

284,25

285,00

-1,75

-0,61%

Gạo thô

USD/cwt

10,75

10,62

-0,02

-0,19%

Đậu tương

US cent/bushel

887,75

886,75

+7,75

+0,88%

Khô đậu tương

USD/tấn

311,00

305,60

-0,50

-0,16%

Dầu đậu tương

US cent/lb

28,20

27,62

-0,40

-1,43%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

485,30

482,40

+0,60

+0,12%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.301,00

2.287,00

-5,00

-0,22%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

120,05

117,50

-2,70

-2,25%

Đường thô

US cent/lb

13,44

12,73

-0,11

-0,86%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

138,15

136,15

-0,40

-0,29%

Bông

US cent/lb

78,79

79,86

-0,68

-0,84%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

341,00

358,40

+8,90

+2,55%

Cao su TOCOM

JPY/kg

163,10

160,90

-0,10

-0,06%

Ethanol CME

USD/gallon

1,31

1,25

-0,01

-1,10%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg