Năng lượng: Giá dầu giảm gần 4% trong tuần
Phiên giao dịch cuối tuần, giá dầu tăng sau thông tin đường ống dẫn dầu của Shell tại Nigeria bị rò rỉ. Đóng cửa phiên giao dịch, giá dầu Brent trên sàn London tăng 29 US cent lên 48,15 USD/thùng; còn giá dầu ngọt nhẹ (WTI) trên sàn New York tăng 19 US cent lên 45,83 USD/thùng.
Tuy nhiên, tính chung cả tuần, giá cả 2 loại dầu WTI và dầu Brent đều giảm gần 4% do lo ngại về tình trạng dư thừa nguồn cung vẫn chi phối thị trường.
Ngày 5/6, Ai Cập, Saudi Arabia, Các Tiểu Vương quốc Arập thống nhất (UAE), Bahrain, Yemen và Chính phủ miền Đông Libya và Maldives đã đồng loạt tuyên bố đã cắt đứt quan hệ ngoại giao với Qatar vì cáo buộc nước này ủng hộ khủng bố.
Các chuyên gia phân tích nhận định quyết định cắt đứt quan hệ ngoại giao với Doha của một số nước Arập gây lo ngại về khả năng ảnh hưởng xấu đến thỏa thuận cắt giảm sản lượng khai thác dầu mỏ toàn cầu.
Số liệu cho thấy dự trữ dầu thô và xăng của Mỹ bất ngờ tăng lên đã thổi bùng lên quan ngại rằng thỏa thuận cắt giảm sản lượng của các nước sản xuất dầu lớn chưa đủ để hạn chế tình trạng dư cung trên toàn cầu.
Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) mới đây công bố số liệu cho thấy lượng dầu thô tại các kho dự trữ thương mại bất ngờ tăng lên 513,2 triệu thùng trong tuần trước. Dự trữ các chế phẩm từ dầu cũng tăng cho dù đây là giai đoạn nhu cầu đi lại cao điểm của mùa Hè.
Theo công ty Baker Hughes, hoạt động sản xuất dầu mỏ của Mỹ đang tiếp tục mở rộng, với số giàn khoan dầu trong tuần tính đến 9/6 tăng thêm 8 giàn khoan, ghi nhận tuần tăng thứ 21 liên tiếp, đưa tổng số lên 741, mức cao nhất kể từ tháng 4/2015.
Mức sụt giảm trên là kết quả của tình trạng dư cung cho dù các nước trong và ngoài OPEC đã nỗ lực cắt giảm khoảng 1,8 triệu thùng/ngày cho đến quý I/2018.
Kim loại quý: Giá vàng giảm tuần đầu tiên trong 5 tuần
Phiên giao dịch cuối tuần, giá vàng ghi nhận phiên giảm thứ ba liên tiếp, sau khi đảng Bảo thủ của Thủ tướng Anh Theresa May không thể giành được đa số ghế tại Hạ viện. Kết quả này đã khiến đồng bảng Anh giảm mạnh và đẩy chỉ số đồng USD lên mức cao nhất kể từ cuối tháng Năm. Tuy nhiên, các kim loại quý có diễn biến không đồng nhất với nhau. Trái với giá vàng giảm trong phiên cuối tuần, palađi đã tăng 7% lên mức cao nhất trong 16 năm, do hoạt động mua vào để đầu cơ tăng mạnh. Cụ thể, giá kim loại quý này đã vọt lên 914,70 USD/ounce, mức cao nhất kể từ đầu năm 2001.
Tính chung cả tuần, giá vàng giảm tuần đầu tiên trong 5 tuần, do sự mạnh lên của đồng USD.
Các chuyên gia phân tích của ngân hàng Standard Chartered cho rằng báo cáo việc làm yếu hơn dự đoán của Mỹ đã đẩy giá vàng đi lên, song không ảnh hưởng đến khả năng tăng lãi suất trong cuộc họp tháng Sáu của Fed.
Thị trường kim loại quý đang bị chi phối bởi nhiều yếu tố: Những bất ổn chính trị tại Trung Đông, cuộc họp của Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB); cuộc tổng tuyển cử tại Anh, cuộc điều trần trước Quốc hội của cựu Giám đốc Cục Điều tra Liên bang Mỹ (FBI) James Comey cũng tác động tới tâm lý của nhà đầu tư trên thị trường.
Kim loại cơ bản: Giá đồng cao nhất 5 tuần sau số liệu về Trung Quốc và lưu kho ở London
Phiên giao dịch cuối tuần, giá đồng đã tăng lên mức cao nhất 5 tuần do lo ngại về lượng cung từ Chile, số liệu gần đây cho thấy nhu cầu nhập khẩu mạnh từ Trung Quốc và dự trữ giảm.
Dự trữ đồng tại kho ở London giảm 9.475 tấn trong ngày 9/6, xuống 276.875 tấn và đã thấp hơn gần 20% so với mức cao nhất 7 tháng hồi tháng 5 vừa qua.
Nông sản: Giá đường giảm, cà phê tăng
Phiên cuối tuần giá cà phê arabica giao tháng 7 tăng 0,2 US cent tương đương 0,16% lên 1,2655 USD/lb do hoạt động mua bù. Robusta giao cùng kỳ hạn cũng tăng 19 USD tương đương 0,96% lên 2.002 USD/tấn. Tính chung cả tuần giá đường cũng tăng.
Đường thô giao tháng 7 giảm giá 0,07 US cent tương đương 0,49% trong phiên cuối tuần, xuống 14,27 US cent/lb, đường trắng giao tháng 8 cũng giảm 3,40 USD tương đương 0,81% xuống 416,90 USD/tấn. Tính chung cả tuần, giá đường giảm.
Giới đầu cơ đã giảm mua đường trở lại. Cả thị trường đường và cà phê đều đang dõi theo tình hình thời tiết ở Brazil.
Trong báo cáo tháng 6 vừa công bố, Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) đã điều chỉnh giảm mạnh mức dự báo về nguồn cung đường do dự báo nguồn cung của Mỹ giảm mạnh trong niên vụ 2017/18.
USDA hạ triển vọng nhập khẩu đường Mỹ từ Mexico đi 1/5 xuống 1,77 triệu tấn do dự báo sản lượng đường của Mexico sẽ giảm.
Sản lượng đường Mexico niên vụ 2017/18 (bắt đầu từ tháng 10) sẽ thấp hơn dự báo trước đây.
Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

3/6

10/6

10/6 so với 9/6

10/6 so với 9/6 (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

47,66

45,83

+0,19

+0,42%

Dầu Brent

USD/thùng

49,95

48,15

+0,29

+0,61%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

34.510,00

33.410,00

+220,00

+0,66%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

3,00

3,04

+0,01

+0,36%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

157,71

150,17

+0,98

+0,66%

Dầu đốt

US cent/gallon

148,48

143,12

+0,89

+0,63%

Dầu khí

USD/tấn

439,00

427,25

+5,25

+1,24%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

48.540,00

46.890,00

+250,00

+0,54%

Vàng New York

USD/ounce

1.280,20

1.271,40

-8,10

-0,63%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.524,00

4.484,00

-18,00

-0,40%

Bạc New York

USD/ounce

17,53

17,22

-0,19

-1,10%

Bạc TOCOM

JPY/g

62,20

60,90

-0,70

-1,14%

Bạch kim giao ngay

USD/t oz.

954,45

940,15

+2,26

+0,24%

Palladium giao ngay

USD/t oz.

841,99

885,57

+25,08

+2,91%

Đồng New York

US cent/lb

257,45

264,95

+4,00

+1,53%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

5.665,00

5.804,00

+74,50

+1,30%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

1.931,00

1.907,00

+4,50

+0,24%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

2.529,00

2.533,00

+66,00

+2,68%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

20.300,00

18.800,00

-380,00

-1,98%

Ngô

US cent/bushel

372,75

387,75

+2,00

+0,52%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

429,50

445,75

-3,50

-0,78%

Lúa mạch

US cent/bushel

246,00

252,25

+7,25

+2,96%

Gạo thô

USD/cwt

11,12

11,32

+0,09

+0,80%

Đậu tương

US cent/bushel

921,25

941,50

+3,50

+0,37%

Khô đậu tương

USD/tấn

301,90

305,90

-0,20

-0,07%

Dầu đậu tương

US cent/lb

31,01

32,29

+0,44

+1,38%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

499,90

494,90

-0,60

-0,12%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.001,00

2.038,00

+49,00

+2,46%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

125,55

126,55

+0,20

+0,16%

Đường thô

US cent/lb

13,74

14,27

-0,07

-0,49%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

132,50

138,80

+1,85

+1,35%

Bông

US cent/lb

73,12

72,49

-0,61

-0,83%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

353,50

364,40

+0,80

+0,22%

Cao su TOCOM

JPY/kg

191,00

186,80

-0,20

-0,11%

Ethanol CME

USD/gallon

1,57

1,55

+0,01

+0,45%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg