Năng lượng: Giá dầu tăng hai tuần liên tiếp
Phiên cuối tuần, giá dầu giảm bởi trước mắt Mỹ và các đồng minh sẽ tiếp tục duy trì thỏa thuận với Iran – điều có thể giúp đảm bảo xuất khẩu dầu thô của Iran trên thị trường thế giới. Kết thúc phiên giao dịch, giá dầu thô ngọt nhẹ (WTI) giao tháng 6/2018 trên sàn New York giảm 66 US cent (0,9%), xuống 70,70 USD/thùng, phiên trước đó có lúc giá chạm mức cao nhất kể từ tháng 11/2014; trong khi đó dầu Brent biển Bắc giao tháng 7/2018 giảm 35 US cent (gần 0,5%), xuống 77,12 USD/thùng.
Tuy nhiên tính chung cả tuần, giá dầu WTI tăng 1,4%, còn dầu Brent tăng 3%, là tuần thứ 2 tăng liên tiếp.
Ngày 8/5, Tổng thống Mỹ Donald Trump tuyên bố sẽ rút Mỹ khỏi thỏa thuận hạt nhân Iran, một thỏa thuận mang tính bước ngoặt đã được ký kết vào năm 2015. Việc Mỹ rút khỏi thỏa thuận hạt nhân đã giúp thị trường dầu mỏ hưởng lợi, khi tâm lý lo ngại nguồn cung dầu toàn cầu bị thu hẹp đã đẩy giá dầu đi lên. Ngoài ra, thị trường cũng lo ngại về sản lượng khai thác dầu thô của Venezuela tiếp tục giảm, do khủng hoảng kinh tế kéo dài tại quốc gia Nam Mỹ này. Sản lượng khai thác dầu mỏ của Venezuela đã giảm một nửa kể từ đầu những năm 2000 xuống còn 1,5 triệu thùng mỗi ngày, do không đảm bảo đủ nguồn vốn đầu tư để giữ sản lượng khai thác “vàng đen” và duy trì những nhà máy lọc dầu.
Về những thông tin liên quan, Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) cho biết dự trữ dầu thô của nước này đã giảm 2,2 triệu thùng xuống 433,8 triệu thùng trong tuần kết thúc vào ngày 4/5. Tuy nhiên, EIA cũng nâng dự báo sản lượng khai thác dầu của Mỹ trong năm sau có thể đạt 12 triệu thùng/ngày. Điều này sẽ đưa Mỹ trở thành nước khai thác dầu mỏ lớn nhất thế giới, vượt lên Nga và Saudi Arabia. Báo cáo của công ty dịch vụ dầu khí Baker Hughes cho hay, số giàn khoan đang hoạt động của Mỹ trong tuần này đã tăng thêm 10 giàn, lên 844 chiếc, đánh dấu tuần tăng thứ sáu liên tiếp.
Kim loại quý: Giá đồng loạt tăng
Phiên cuối tuần, giá vàng ít biến động, với vàng giao ngay lúc đóng cửa vững ở 1.321 USD/ounce, đầu phiên có lúc giá lên mức cao nhất kể từ 25/4 (1.325,96 USD), vàng giao tháng 6 giảm 1,6 USD tương đương 0,1% xuống 1.320,70 USD/ounce.
Tuy nhiên, tính chung cả tuần gía vàng vẫn tăng nhẹ 0,5%, lần tăng đầu tiên trong vòng 4 tuần, vì đồng USD giảm liên tiếp 3 phiên so với rổ các đồng tiền chủ chốt do USD yếu đi và các nhà đầu tư giảm niềm tin vào khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ sẽ nâng tỷ lệ lãi suất 3 lần trong năm 2018.
Cũng trong phiên cuối tuần, giá bạc tăng 0,3% lên 16,72 USD/ounce, giá bạch kim giảm 0,4% trong phiên 11/5, xuống mức 920,49 USD/ounce, và giá palađi để mất 0,8% ở phiên cuối tuần, xuống 991 USD/ounce.
Tính chung cả tuần, giá các kim loại quý này lần lượt tăng 1,3%, tăng gần 2% và tăng hơn 2%.
Hiện tại, “rủi ro địa chính trị ở Trung Đông, đồng USD yếu đi và lợi suất trái phiếu kho bạc giảm đang là những yếu tố hỗ trợ tạm thời thị trường vàng”, lãnh đạo tập đoàn Dillon Gage Metals, ông Walter Pehowich cho biết.
Vàng được coi là một tài sản đầu tư an toàn trong thời kỳ bất ổn, song giới đầu tư dường như không bị chi phối nhiều bởi tình hình căng thẳng ở Trung Đông, qua đó không giúp vàng hưởng lợi nhiều. Thêm vào đó, cuộc gặp giữa Tổng thống Mỹ Donald Trump và nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un vào ngày 12/6 tới tại Singapore được kỳ vọng sẽ thúc đẩy triển vọng hòa bình ở bán đảo Triều Tiên, đồng thời làm dịu bớt lo ngại về xung đột tại khu vực này.
Nhu cầu vàng trên thế giới quý 1/2018 thấp nhất trong vòng một thập kỷ do giá ít biến động và lãi suất tăng ở Mỹ khiến các nhà đầu tư chuyển hướng sang những tài sản mang lại nhiều lợi nhuận hơn. Theo Hội đồng Vàng Thế giới (WGI), tổng nhu cầu vàng toàn cầu trong 3 tháng đầu năm nay đạt 973,5 tấn, giảm 7% so với cùng kỳ năm ngoái và là quý thấp nhất kể từ 2008.
Kim loại công nghiệp: Giá biến động trong phiên cuối tuần
Phiên cuối tuần giá nhôm giảm xuống mức thấp nhất 1 tuần do sự điều chỉnh xu hướng sau đợt tăng giá. Nhôm giao sau 3 tháng trên sàn Thượng Hải giảm 2% xuống 2.288 USD/tấn, thấp nhất kể từ 3/5.
Giá sắt và thép tại Trung Quốc tăng trong phhiên giao dịch cuối tuần trong bối cảnh giới đầu tư lạc quan hơn về triển vọng nhu cầu bởi dự trữ thép cây tục giảm và nhu cầu gia tăng trên thị trường bất động sản. Quặng sắt trên sàn Đại Liên tăng 0,8% lên 473,5 NDT/tấn, quặng sắt giao tại cảng Tần Hoàng Đảo ở mức 66,83 USD/tấn; trong khi thép cây – dùng trong xây dựng – trên sàn Thượng Hải tăng 1,7% lên 3.653 NDT/tấn.
Dự trữ thép cây đã giảm gần 1/3 kể từ giữa tháng 3, từ mức cao kỷ lục nhiều năm là 9,79 triệu tấn xuống còn 6,71 triệu tấn ngày 4/5. Như vậy, các nhà máy thép sẽ cần tăng lượng dự trữ bởi dự báo sản lượng sẽ tăng sau những tháng mùa đông. Ngân hàng ANZ trước đây dự báo sẽ dư thừa thép trong năm 2018, nhưng thực tế thì tiêu thụ đang khá mạnh. Tuy nhiên, về trung hạn, họ vẫn duy trì dự báo giá quặng sắt sẽ giảm, có thể xuống chỉ 69 USD/tấn trong vài tháng tới.
Nông sản: Cà phê và đường giảm, cao su tăng
Phiên cuối tuần, giá đường thô giảm 0,05 US cent tương đương 0,4% xuống 11,22 US cent/lb, tính chung cả tuần giảm 2,5%, là tuần thứ 10 giảm trong vòng 11 tuần vừa qua. Đường trắng giao tháng 8 cũng giảm 2,7 USD tương đương 0,8% xuống 320,70 USD/tấn. Brazil bắt đầu thu hoạch mía, thời tiết khô ráo thuận lợi cho việc thu hoạch nên gây áp lực giảm giá đường.
Giá cà phê arabica giao tháng 7 giảm 0,15 US cent tương đương 0,13% xuống 1,194 USD/lb, tính chung cả tuần giá giảm 2,6%; robusta giao cùng kỳ hạn trái lại tăng 15 USD tương đương 0,9% lên 1.758 USD/tấn.
Đồng real Brazil giảm trong phiên cuối tuần gây áp lực giảm giá tới loại arabica vì Brazil là nước sản xuất arabica lớn nhất thế giới, mà nội tế yếu đi khích lệ nông dân nước này tăng bán cà phê ra (tính theo USD sẽ được lợi nhuận cao hơn).
Giá cao su kỳ hạn trên sàn Tokyo tiếp tục tăng trong phiên cuối tuần sau khi giá tại Thượng Hải tăng mạnh và hoạt động mua mạnh trước kỳ nghỉ cuối tuần. Hợp đồng giao tháng 10 tại Tokyo tăng 0,5 JPY lên 193,4 JPY (1,77 USD)/kg, tính chung cả tuần giá tăng 0,7%. Hợp đồng giao tháng 9 trên sàn Thượng Hải trong phiên có lúcphieen11.750 NDT/tấn, nhưng kết thúc phiên giảm nhẹ 10 NDT xuống 1.580 NDT (1.845 USD)/tấn.
Về những thông tin cơ bản, dự trữ cao su tại các kho của sàn Thượng Hải tăng 1,3% so với cách đây một tuần, tuy nhiên tiêu thụ ô tô mạnh tại thị trường Trung Quốc tháng 4 nên giá tại Thượng Hải vẫn tăng cao. Trong tháng 4, tiêu thụ ô tô tại Trung Quốc tăng 11,5% so với cùng tháng năm ngoái, lên 2,23 triệu chiếc, trái với xu hướng ảm đạm hồi đầu năm.
Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá 5/5

Giá 12/5

12/5 so với 11/5

12/5 so với 11/5 (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

69,72

68,10

+1,29

+1,89%

Dầu Brent

USD/thùng

74,87

74,64

+1,25

+1,70%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

46.280,00

46.490,00

-790,00

-1,68%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,71

2,77

-0,01

-0,55%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

211,40

212,69

+2,65

+1,27%

Dầu đốt

US cent/gallon

215,40

215,09

+4,13

+1,95%

Dầu khí

USD/tấn

649,00

649,75

+9,75

+1,53%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

63.600,00

63.520,00

-880,00

-1,36%

Vàng New York

USD/ounce

1.314,70

1.323,40

+2,00

+0,15%

Vàng Tokyo

JPY/g

4.606,00

4.630,00

+1,00

+0,02%

Bạc New York

USD/ounce

16,52

16,50

+0,07

+0,44%

Bạc TOCOM

JPY/g

57,30

58,00

+0,20

+0,35%

Bạch kim

USD/ounce

911,75

915,33

+8,65

+0,96%

Palladium

USD/ounce

970,65

972,13

+6,35

+0,66%

Đồng New York

US cent/lb

308,55

306,95

+0,50

+0,16%

Đồng LME

USD/tấn

6.826,00

6.797,00

-1,00

-0,01%

Nhôm LME

USD/tấn

2.350,00

2.223,00

+81,00

+3,57%

Kẽm LME

USD/tấn

3.055,00

3.121,00

+48,00

+1,60%

Thiếc LME

USD/tấn

21.230,00

20.900,00

+25,00

+0,12%

Ngô

US cent/bushel

406,25

398,50

-1,75

-0,43%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

526,25

498,50

-11,75

-2,18%

Lúa mạch

US cent/bushel

235,00

232,00

-2,00

-0,84%

Gạo thô

USD/cwt

12,93

13,01

-0,08

-0,65%

Đậu tương

US cent/bushel

1.036,75

1.056,25

-16,50

-1,57%

Khô đậu tương

USD/tấn

393,70

395,30

-4,90

-1,23%

Dầu đậu tương

US cent/lb

30,77

30,73

-0,04

-0,13%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

527,10

532,40

-1,00

-0,19%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.777,00

2.831,00

-64,00

-2,25%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

122,60

122,40

-1,75

-1,41%

Đường thô

US cent/lb

11,51

11,52

-0,18

-1,54%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

161,90

153,85

+2,80

+1,76%

Bông

US cent/lb

86,90

84,51

+2,40

+2,84%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

576,50

557,90

+10,00

+1,77%

Cao su TOCOM

JPY/kg

192,00

187,70

-0,90

-0,47%

Ethanol CME

USD/gallon

1,50

1,45

+0,01

+0,81%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg