Năng lượng: Giá dầu thô giảm mạnh
Phiên cuối tuần, giá dầu ngọt nhẹ (WTI) giao tháng 11/2018 tăng 37 US cent (0,5%) lên 71,34 USD/thùng, dầu Brent Biển Bắc giao tháng 12/2018 tăng 17 US cent (0,2%), lên 80,43 USD/thùng sau thông tin sản lượng dầu thô Mỹ giảm trong tuần này và do chứng khoán tăng điểm.
Tuy nhiên, tính chung cả tuần qua, giá dầu WTI mất khoảng 4%, còn dầu Brent lùi 4,4%.
Số liệu từ công ty dịch vụ dầu khí Baker Hughes cùng ngày cho biết, số giàn khoan đang hoạt động tại Mỹ trong tuần qua tăng 8 giàn, lên 869 giàn, sau khi giảm liên tiếp 3 tuần trước, đồng thời ghi nhận tuần tăng mạnh nhất kể từ tuần kết thúc ngày 10/8/2018.
Báo cáo mới nhất của Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) cho hay, dự trữ dầu thô của nước này tăng 6 triệu thùng trong tuần trước (kết thúc ngày 5/10), cao hơn gấp đôi dự báo của giới phân tích là chỉ tăng 2,6 triệu thùng. Điều này cho thấy các nhà máy lọc dầu nước này vẫn tiếp tục hạn chế hoạt động sản xuất để bảo dưỡng định kỳ.
Báo cáo hàng tháng của Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) được công bố ngày 11/10/2018 cho biết, sản lượng dầu thô của OPEC và Nga đều tăng trong tháng Chín, nhiều hơn lượng dầu cần để bù đắp cho sự thiếu hụt sản lượng tại Iran trước khi các lệnh trừng phạt của Mỹ đối với ngành công nghiệp dầu mỏ nước này có hiệu lực.
Trong khi đó, Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) cũng vừa công bố báo cáo hàng tháng cho hay, thị trường hiện đã đủ nguồn cung, đồng thời cắt giảm dự báo tăng trưởng nhu cầu tiêu thụ dầu thế giới trong năm nay và 2019 do triển vọng kinh tế yếu hơn, quan ngại về tình hình căng thẳng thương mại, nguy cơ giá dầu cao hơn và các số liệu kinh tế điều chỉnh của Trung Quốc.
Tuy nhiên, thị trường dầu vẫn được hỗ trợ bởi lo ngại nguồn cung từ Iran sụt giảm sau lệnh trừng phạt của Mỹ.
Từ đầu tháng Mười, lượng dầu xuất khẩu của Iran đã sụt giảm, khi các khách hàng mua dầu của nước này tìm kiếm nguồn cung thay thế trước khi lệnh trừng phạt của Mỹ có hiệu lực vào ngày 4/11 tới. Một số tổ chức giao dịch hàng đầu thế giới dự kiến các lệnh trừng phạt của Mỹ nhằm vào Iran sẽ đẩy giá dầu lên cao và có thể giúp mặt hàng này vượt mốc 100 USD/thùng trong trung hạn.
Kim loại quý: Giá vàng tăng tuần thứ hai liên tiếp
Phiên giao dịch cuối tuần, giá vàng giảm do chứng khoán toàn cầu khởi sắc trở lại. Kết thúc phiên, giá vàng giao tháng 12/2018 giảm 5,60 USD (tương đương gần 0,5%) xuống 1.222 USD/ounce, vàng giao ngay cũng mất 0,4%, xuống 1.218,76 USD/ounce.
Tuy nhiên, tính chung cả tuần qua, giá vàng kỳ hạn tăng 1,4%, đánh dấu hai tuần tăng liên tiếp.
So với mức đỉnh tháng 4, vàng vẫn giảm hơn 10%, do USD mạnh khi cuộc chiến thương mại Mỹ- Trung Quốc leo thang trong khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ tăng lãi suất lần thứ 3 trong năm vào tháng trước và dự kiến sẽ tăng tiếp trong tháng 12.
Rob Haworth, chiến lược gia đầu tư cấp cao tại U.S. Bank, nhận định: “Câu hỏi quan trọng là liệu đà tăng của vàng có thể duy trì được không? Quan điểm của chúng tôi là không. Lãi suất tăng cao, cùng với việc Fed có khả năng nâng lãi suất vào tháng 12 tới và tăng trưởng kinh tế Mỹ vẫn mạnh mẽ, điều này sẽ giữ lãi suất ở mức cao và kìm hãm đà tăng của vàng”.
Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cho biết cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung sẽ gây hại cho tăng trưởng toàn cầu, và tổ chức này đã hạ dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu lần đầu tiên kể từ năm 2016.
Kim loại công nghiệp: Sắt thép Trung Quốc tăng giá
Phiên cuối tuần, giá quặng sắt và thép cây tại Trung Quốc tăng mạnh do lo ngại thiếu cung ngắn hạn khi các biện pháp hạn chế sản xuất đưa vào áp dụng. Thành phố Đường Sơn đã cắt giảm một nửa sản xuất từ ngày 11 đến18/10 do dự báo thời tiết bất lợi.
Giá thép cây hợp đồng tháng 1/2019 chốt phiên tăng 2,1% lên 4.106 CNY(593,96 USD)/tấn. Giá thép cuộn cán nóng tăng 1,2% lên 3.931 CNY/tấn. Giá quặng sắt kỳ hạn giao sau tại Đại Liên tăng 0,6% lên 515 CNY/tấn.
Tồn kho thép tại các thương nhân Trung Quốc giảm 193.400 tấn trong tuần này so với tuần trước, xuống còn 10,65 triệu tấn, với lượng tồn kho thép xây dựng giảm 3,4% xuống còn 4,4 triệu tấn, theo số liệu của tư vấn Mysteel. Duy có dự trữ thép cuộn cán nóng tăng 1,8% lên 2,4 triệu tấn.
Nông sản: Giá đường và cà phê tăng
Phiên cuối tuần, giá đường thô kỳ hạn trên sàn ICE tăng lên mức cao nhất 7 tháng trong khi cà phê arabica có mức tăng hàng tuần lớn nhất trong hơn một năm, trong bối cảnh thị trường chứng khoán hồi phục mạnh và hoạt động giao dịch mua bù thiếu.
Đường thô kỳ hạn tháng 3/2019 đã tăng 0,15 cent, tương đương 1,2%, lên mức 13,07 US cent/lb, sau khi chạm mức cao nhất kể từ đầu tháng 3/2018 vào phiên sáng. Tính chung cả tuần, giá đường thô đã tăng 3,5%. Đường trắng kỳ hạn tháng 12/2018 tăng 0,60 USD, tương đương 0,2%, đạt mức 363,50 USD/tấn. Tính chung cả tuần, giá đường trắng tăng 4,8%.
Giá cà phê arabica kỳ hạn tháng 12/2018 tăng 1,8 cent, tương đương 1,6%, lên 1.1470 USD/lb, sau khi đạt mức 1.1680 USD, mức cao nhất kể từ giữa tháng 6.Tính chung cả tuần, giá cà phê arabica đã tăng 6,7%, mức tăng lớn nhất kể từ tháng 9/2017. Đây là tuần tăng điểm thứ tư liên tiếp.Trong khi, cà phê robusta kỳ hạn tháng 1/2019 đã tăng 26 USD, tương đương 1,5%, lên mức 1.725 USD/tấn.
Giá cao su kỳ hạn tại Tokyo tiếp tục giảm trong ngày giao dịch cuối tuần song mức độ giảm bị hạn chế bởi giá dầu tăng và giá cao su tại Thượng Hải tăng nhẹ.
Giá dầu thô tăng 1% sau hai ngày giảm mạnh nhờ nhập khẩu dầu thô Trung Quốc tăng cao. Giá cao su TOCOM giảm khoảng 15% so với năm ngoái, do lo ngại nhu cầu suy yếu toàn cầu, đặc biệt tại Trung Quốc.
Nhập khẩu cao su tự nhiên và tổng hợp của Trung Quốc trong tháng 9/2018 đạt 607.000 tấn, giảm 8% so với một năm trước đó.
Giá cao su kỳ hạn tháng 3/2019 tại Tokyo giảm 0,5 JPY xuống 168,7 JPY (1,50 USD)/kg, tính chung cả tuần giảm 0,4%. Giá cao su TSR 20 kỳ hạn tháng 4/2019 chốt phiên tăng 0,6% đạt 153.9 JPY/kg.
Giá cao su kỳ hạn tháng 1/2019 tại Thượng Hải tăng 0,04% lên mức 12.305 CNY(1.780 USD)/tấn. Giá cao su tại SICOM(Singapore) giao tháng 11/2018 ổn định ở mức 132,70 US cent/kg sau khi chạm mức thấp nhất ba tuần một ngày trước đó.
Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá 6/10

Giá 13/10

13/10 so với 12/10

13/10 so với 12/10(%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

74,34

71,34

+0,37

+0,52%

Dầu Brent

USD/thùng

84,16

80,43

+0,17

+0,21%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

56.610,00

53.740,00

-420,00

-0,78%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

3,14

3,16

-0,06

-1,89%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

208,61

194,20

+0,93

+0,48%

Dầu đốt

US cent/gallon

239,23

232,13

-1,09

-0,47%

Dầu khí

USD/tấn

741,75

718,00

-3,50

-0,49%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

73.800,00

70.490,00

-270,00

-0,38%

Vàng New York

USD/ounce

1.205,60

1.222,00

-5,60

-0,46%

Vàng Tokyo

JPY/g

4.390,00

4.379,00

-11,00

-0,25%

Bạc New York

USD/ounce

14,65

14,64

+0,03

+0,20%

Bạc TOCOM

JPY/g

53,50

52,70

+0,20

+0,38%

Bạch kim

USD/ounce

822,52

838,25

-2,69

-0,32%

Palladium

USD/ounce

1.071,74

1.067,74

-12,08

-1,12%

Đồng New York

US cent/lb

276,30

280,05

-0,25

-0,09%

Đồng LME

USD/tấn

6.173,00

6.302,00

+60,00

+0,96%

Nhôm LME

USD/tấn

2.130,00

2.041,00

+21,00

+1,04%

Kẽm LME

USD/tấn

2.635,00

2.646,00

+40,00

+1,53%

Thiếc LME

USD/tấn

18.975,00

19.125,00

-150,00

-0,78%

Ngô

US cent/bushel

368,25

373,75

+4,50

+1,22%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

521,00

517,25

+9,25

+1,82%

Lúa mạch

US cent/bushel

287,00

288,00

+1,50

+0,52%

Gạo thô

USD/cwt

10,82

10,69

0,00

0,00%

Đậu tương

US cent/bushel

869,00

867,50

+9,25

+1,08%

Khô đậu tương

USD/tấn

319,60

316,90

+0,10

+0,03%

Dầu đậu tương

US cent/lb

29,41

29,39

+0,37

+1,27%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

501,30

501,70

-0,60

-0,12%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.024,00

2.160,00

+63,00

+3,00%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

108,95

116,55

+3,65

+3,23%

Đường thô

US cent/lb

12,63

13,07

+0,15

+1,16%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

143,20

143,55

+0,85

+0,60%

Bông

US cent/lb

76,10

78,37

+1,56

+2,03%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

350,30

320,10

-4,10

-1,26%

Cao su TOCOM

JPY/kg

169,40

169,40

+0,70

+0,41%

Ethanol CME

USD/gallon

1,32

1,31

+0,00

+0,31%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg