Năng lượng: Dầu giảm tuần thứ 2 liên tiếp
Phiên cuối tuần, giá dầu tăng phiên thứ 2 liên tiếp do lo ngại các cuộc đình công của ngành dầu khí tại Nauy và Iraq có thể tác động đến nguồn cung. Dầu Brent tăng 88 US cent lên 75,33 USD/thùng; trong khi dầu WTI tăng 68 US cent lên 71,01 USD/thùng.
Tuy nhiên do giảm mạnh ở mấy phiên đầu tuần nên tính chung cả tuần giá dầu Brent vẫn giảm 2,7% trong khi dầu WTI giảm 3,9% vì có khả năng Iran có thể vẫn xuất khẩu một số dầu thô mặc dù bị Mỹ trừng phạt và Libya mở cửa trở lại 4 cảng biển sau một thời gian tạm dừng hoạt động.
Tổng Công ty Dầu mỏ quốc gia Libya (NOC) mở lại hoạt động tại bốn cảng dầu của nước này. NOC cho biết hoạt động sản xuất và xuất khẩu dầu từ các cảng này sẽ sớm trở lại bình thường. Sản lượng dầu mỏ của Libya đã giảm xuống 527.000 thùng/ngày so với mức 1,28 triệu thùng/ngày trong tháng 2/2018 sau khi cảng trên phải đóng cửa.
Trong khi đó, Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo cho biết Washington sẽ cân nhắc việc miễn trừ một số nước khỏi danh sách cấm nhập khẩu dầu của Iran. Lo ngại tranh chấp thương mại Mỹ-Trung Quốc có thể ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế toàn cầu cũng cản trở các nhà đầu tư mua vào. Lo ngại căng thẳng thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc có thể tác động đến tăng trưởng kinh tế toàn cầu cũng gây áp lực lên thị trường dầu mỏ.
Trong tháng 6/2018, nhập khẩu dầu thô của Trung Quốc đã giảm tháng thứ hai liên liếp xuống mức thấp nhất kể từ tháng Mười Hai, giữa bối cảnh sự sụt giảm lợi nhuận và tình trạng biến động của giá dầu khiến một số nhà lọc dầu giảm lượng mua dầu.
Trong những ngày tới, thị trường dự báo sẽ tiếp tục chịu tác động từ các yếu tố trái chiều. Giới đầu tư vẫn lo ngại về nguồn cung gián đoạn ở Venezuela - một thành viên của Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC). Nguồn cung ở một số nước sản xuất khác cũng đang gặp vấn đề. Tại Iraq có khoảng 100 người biểu tình để yêu sách có việc làm và các dịch vụ tốt hơn, điều này khiến cảng hàng hóa Umm Qasr gần thành phố Basra bị đóng cửa vào ngày 13/6. Trước đó, hàng trăm công nhân ở các giàn khoan dầu khí ngoài khơi của Nauy ngày 11/7/2018 cũng đã đình công sau khi đề xuất về tiền lương bị từ chối. Mỏ dầu RDSa.L Knarr của Shell, có sản lượng 23.900 thùng/ngày, đã bị ngừng hoạt động. Chuyên gia phân tích năng lượng cấp cao của Interfax Energy - ở London, Abhishek Kumar, khẳng định “Nguồn cung dầu giảm sút từ Venezuela cộng thêm các cuộc biểu tình ở Nauy và Iraq đem lại tâm lý lạc quan cho các nhà đầu tư”.
Trong khi đó, Bộ trưởng Năng lượng Nga, Alexander Novak, cho biết nước này và các nhà sản xuất dầu mỏ hàng đầu thế giới khác có thể gia tăng sản lượng trong trường hợp nguồn cung thiếu hụt. Trong một báo cáo, EIA dự báo giá dầu Brent sẽ ở mức trung bình 73 USD/thùng trong nửa cuối năm 2018 và sẽ giảm xuống 69 USD/thùng vào năm 2019.
Cơ quan này cũng ước tính sản lượng dầu thô của Mỹ sẽ đạt trung bình 10,8 triệu thùng/ngày trong năm 2018, tăng so với mức 9,4 triệu thùng/ngày trong năm 2017 và tiếp tục tăng lên 11,8 triệu thùng/ngày vào năm 2019.
Khí gas tuần qua cũng giảm tiếp do nguồn cung dồi dào trong khi nhu cầu yếu. Khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) giao tháng 8/2018 trên thị trường châu Á hiện ở mức 10 USD/mmBtu, giảm 10 US cent so với cách đây một tuần. Mặc dù nhiệt độ ở Nhật Bản cao hơn so với mức trung bình song nhu cầu LNG không tăng lên, trong khi tại Trung Quốc, khách hàng vẫn đang chờ đợi giá giảm thêm nữa mới mua vào. Nhập khẩu LNG vào Trung Quốc cũng giảm sút. Tại Ấn Độ, giá thấp thu hút sự chú ý của khách hàng, nhưng nhu cầu cũng không cao, tuần này chỉ có Gali mua một chuyến tàu kỳ hạn giao cuối tháng 7.
Giới chuyên gia dự báo giá sẽ còn giảm tiếp đến tháng 9/2018 do nhu cầu của Trung Quốc và Ấn Độ yếu trong khi nguồn cung dồi dào.
Kim loại quý: Vàng giảm giá
Phiên cuối tuần, giá vàng rơi xuống mức thấp nhất trong bảy tháng, khi đồng USD vọt lên mức cao nhất trong hai tuần sau khi giới đầu tư mua mạnh USD như một tài sản an toàn trong bối cảnh lo ngại gia tăng về căng thẳng thương mại giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới.
Giá vàng giao ngay giảm xuống 1.236,58 USD/ounce, mức thấp nhất kể từ ngày 12/12; giá vàng giao kỳ hạn giảm 5,4 USD (0,4%) xuống 1.241,20 USD/ounce.
Tính chung cả tuần qua, giá giảm khoảng 1%, còn từ giữa tháng 4 tới nay giảm khoảng 9%. Sự biến động của đồng USD được coi là nhân tố chính tác động đến thị trường vàng thế giới tuần qua.
Hiện các nhà đầu tư vẫn đang theo dõi tranh chấp thương mại giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới. Mặc dù vàng thường là tài sản được hưởng lợi trong thời kỳ bất ổn, song điều này có vẻ không đúng như vậy trong thời điểm hiện nay.
Theo Naeem Aslam, nhà phân tích chính về thị trường từ ThinkMarkets.com, cho tới nay tác động của các cuộc tranh chấp thương mại giữa Mỹ và các đối tác lớn tới thị trường vàng vẫn còn hạn chế.
Theo Văn phòng Đại diện thương mại Mỹ (USTR), nước này sẽ áp thuế 10% đối với lượng hàng hóa nhập khẩu bổ sung trị giá 200 tỷ USD của Trung Quốc sớm nhất là từ tháng Chín tới. Thông tin này đã đẩy đồng USD lên mức cao của 11 tháng so với đồng NDT và AUD.
'Theo Chris Gaffney, người đứng đầu mảng thị trường thế giới của TIAA Bank, trong bối cảnh các yếu tố kỹ thuật trên thị trường không thuận lợi, giá vàng sẽ vẫn chịu sức ép. Thậm chí, giá mặt hàng còn có thể để tuột mốc 1.200 USD/ounce.
Về các kim loại quý khác, giá bạc trong phiên cuối tuần có lúc giảm xuống chỉ 15,67 USD/ounce (thấp nhất kể từ 13/12/2017) trước khi kết thúc ở 15,80 USD/ounce (giảm 0,6%); tính chung cả tuần mất 1,2%. Cả bạch kim và palađi cùng giảm gần 2% trong tuần qua; kết thúc phiên cuối tuần bạch kim mất 1,9% so với phiên trước xuống 823,50 USD/ounce, trong khi palađi giảm 1,6% xuống 934,80 USD/ounce. Các nhà phân tích của ANZ nhận định căng thẳng thương mại toàn cầu đe dọa làm sụt giảm tiêu thụ ô tô, ngành sử dụng nhiều bạch kim và palađi.
Kim loại công nghiệp: Giá thép tăng, đồng và nhôm giảm
Tuần qua giá thép Trung Quốc tăng mạnh nhất kể từ cuối tháng 3/2018 do tồn trữ giảm tuần thứ 3 liên tiếp. Phiên cuối tuần, giá thép cây trên sàn Thượng Hải tăng phiên thứ 5 liên tiếp, lúc đóng cửa tăng 0,6% lên 3.959 NDT/tấn, trong phiên có lúc đạt 3.995 NDT (599,09 USD/tấn), mức cao nhất kể từ 4/9/2017. Thép cuộn cán nóng cũng tăng 0,8% lên 4.025 NDT/tấn, sau khi có lúc đạt 4.050 NDT, mức cao nhất kể từ năm 2014.
Tồn trữ các sản phẩm thép tại Trung Quốc tuần này giảm 128.200 tấn xuống 9,97 triệu tấn, trong đó thép cây giảm 2,1% xuống 4,51 triệu tấn, còn thép cuộn cán nóng giảm 0,3% xuống 2,08 triệu tấn. Tỷ lệ sử dụng công suất sản xuất của các nhà máy thép trên toàn Trung Quốc giảm 0,69 điểm phần trăm so với tuần trước, xuống 70,86% vì một số nhà máy đóng cửa bảo dưỡng.
Đồng giảm liên tiếp 5 tuần do xung đột thương mại Mỹ - Trung diễn biến xấu đi. Phiên cuối tuần, đồng giao sau 3 tháng trên sàn London tăng 0,2% lên 6.238 USD/tấn nhưng tính chung cả tuần giảm 1%, và trong 5 tuần qua đã giảm tổng cộng 15%. Đồng càng chịu áp lực giảm giá sau khi Indonesia đạt được thỏa thuận với Freeport-McMoRan Inc và Rio Tinto để mua cổ phần đủ có phần kiểm soát mỏ đồng lớn thứ 2 thế giới - Grasberg.
Giá nhôm chạm mức thấp nhất 3 tháng trước khi diễn ra hội nghị thượng đỉnh giữa Tổng thống Mỹ Donald Trump và Tổng thống Nga Vladimir Putin tại Helsinki vào thứ Hai tuần tới (16/7/52018). Các nhà đầu tư đang dõi theo cuộc gặp gỡ này để xem Mỹ sẽ dỡ bỏ hay tiếp tục trừng phạt Rusal (nhà sản xuất nhôm lớn thứ 2 thé giới). Kết thúc phiên cuối tuần, giá nhôm giảm 0,5% xuống 2.031 USD/tấn, trong phiên có lúc xuống thấp nhất 3 tuần (2.021,50 USD/tấn).
Nông sản: Cà phê giảm tuần thứ 6 liên tiếp; ngô, đậu tương đồng loạt giảm; riêng lúa mì tăng
Phiên cuối tuần, giá cà phê arabica giao tháng 9/2018 giảm 1,65 US cent tương đương 1,5% xuống 1,099 USD/lb, robusta giao cùng kỳ hạn giảm 15 USD tương đương 0,9% xuống 1.666 USD/tấn. Tính chung cả tuần, arabica giảm 3,7% và là tuần giảm thứ 6 liên tiếp do áp lực bán ra mạnh bởi dự báo sản lượng của Brazil sẽ cao kỷ lục.
Đường cũng giảm trong phiên cuối tuần, với đường thô giao tháng 10/2018 giảm 0,12 US cent tương đương 1,1% xuống 10,96 US cent/lb, trong phiên có lúc xuống chỉ 10,91 US cent, thấp nhất kể từ cuối tháng 4. Đường trắng giao cùng kỳ hạn giảm 2,3 USD tương đương 0,7% xuống 326,7 USD/tấn.
Giá lúa mì giao tháng 9/2018 trên sàn Chicago vừa tăng 12-1/2 US cents lên 4,97 USD/bushel, là phiên thứ 2 liên tiếp tăng bởi lo ngại sản lượng sụt giảm ở EU và khu vực Biển Đen có thể khiến lượng dự trữ trên toàn cầu bị thắt chặt. Tuy nhiên tính chung cả tuần, giá vẫn giảm 3,5%.
Ngô giảm do thời tiết ở các khu vực trồng ngô thuận lợi. Ngô gia tháng 9 trên sàn CBOT giảm 4-1/2 US cent xuống 3,41-1/4 USD/bushel, tính chung cả tuần giảm 5,3%.
Đậu tương tiếp tục giảm xuống mức thấp mới do gia tăng lo ngại về căng thẳng thương mại Mỹ - Trung sẽ ảnh hưởng tới xuất khẩu của Mỹ và khiến tồn trữ tăng lên. Đậu tương giao tháng 8/2018 trên sàn Chicago chốt phiên giảm 15 US cent xuống 8,18-3/4 USD/bushel, giảm 6,7% trong tuần vừa qua và là tuần thứ 6 giảm trong vòng 7 tuần vừa qua. Đậu tương vụ mới giao sau 4 tháng giảm 15 USD cent xuống 8,34-1/4 USD/ounce, thấp nhất của hợp đồng này kể từ 10/12/2008.
Nhập khẩu đậu tương vào Trung Quốc trong tháng 6 đã tăng mạnh 13,1% so với cùng kỳ năm trước bởi các nhà nhập khẩu tăng cường mua vào để né thuế. Cách đây 2 tuần Trung Quốc đã nâng thuế nhập khẩu đậu tương Mỹ để đáp trả động thái Mỹ bổ sung thuế đối với hàng hóa Trung Quốc. Bộ Nông nghiệp Mỹ vừa hạ dự báo về xuất khẩu đậu tương trong vụ 2018/19 giảm 250 triệu bushel và dự đoán tồn trữ cuối vụ sẽ cao kỷ lục.
Dầu thực vật đồng loạt giảm giá do ngại căng thẳng leo thang giữa Mỹ và Trung Quốc. Dầu đậu tương tại Chicago giảm khoảng 0,24 đến 0,36 US cent/lb trong khi dầu lauric giảm 10 đến 25 USD/tấn. Giá dầu cọ tiếp tục giảm xuống mức thấp nhất 3 năm trong bối cảnh thị trường dầu và hạt có dầu đồng loạt đang lao dốc. Dầu cọ giao tháng 9/2018 trên sàn Bursa (Malaysia) giảm 1,8% xuống 2.147 ringgit (530,12 USD)/tấn vào lúc kết thúc phiên, trước đó có lúc chỉ đạ 2.144 ringgit, thấp nhất kể từ 21/9/2015. Tính chung cả tuần giá giảm 5,3% do nhu cầu yếu và căng thẳng thương mại Mỹ - Trung.
Giá cao su tại Tokyo tăng tiếp do yen giảm giá so với USD, nhưng đà tăng bị kìm hãm bởi lo ngại dư thừa nguồn cung và tồn trữ tăng tại các thị trường tiêu thụ chính như Trung Quốc.
Cao su giao tháng 12/2018 trên sàn Tokyo tăng 0,3 JPY lên 172,9 JPY (1,53 USD)/kg. Thị trường Nhật sẽ đóng cửa nghỉ 3 ngày tới vì thứ Hai là ngày lễ. Trên sàn Thượng Hải, cao su gia tháng 9 giảm 20 NDT xuống 10.325 NDT (1.545 USD)/tấn. Tồn trữ tại các kho của sàn Thượng Hải tăng 1,7% so với cách đây một tuần. 

Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá 7/7

Giá 14/7

Giá 14/7 so với 13/7

Giá 14/7 so với 13/7 (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

73,80

71,01

+0,68

+0,97%

Dầu Brent

USD/thùng

77,11

75,33

+0,88

+1,18%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

50.010,00

50.140,00

+290,00

+0,58%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,86

2,75

-0,04

-1,61%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

210,85

210,67

+3,50

+1,69%

Dầu đốt

US cent/gallon

216,84

213,34

+1,03

+0,49%

Dầu khí

USD/tấn

664,75

654,25

+13,25

+2,07%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

67.810,00

68.270,00

+220,00

+0,32%

Vàng New York

USD/ounce

1.255,80

1.241,20

-5,40

-0,43%

Vàng Tokyo

JPY/g

4.451,00

4.476,00

-20,00

-0,44%

Bạc New York

USD/ounce

16,07

15,82

-0,16

-1,01%

Bạc TOCOM

JPY/g

57,20

57,40

-0,30

-0,52%

Bạch kim

USD/ounce

844,42

829,14

-12,81

-1,52%

Palladium

USD/ounce

952,67

939,01

-12,58

-1,32%

Đồng New York

US cent/lb

282,40

277,55

-0,15

-0,05%

Đồng LME

USD/tấn

6.282,00

6.237,00

+9,00

+0,14%

Nhôm LME

USD/tấn

2.080,00

2.031,00

-11,00

-0,54%

Kẽm LME

USD/tấn

2.735,00

2.578,00

-3,00

-0,12%

Thiếc LME

USD/tấn

19.325,00

19.795,00

+145,00

+0,74%

Ngô

US cent/bushel

360,25

354,75

-4,50

-1,25%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

515,25

497,00

+12,50

+2,58%

Lúa mạch

US cent/bushel

242,75

241,75

+0,50

+0,21%

Gạo thô

USD/cwt

11,99

11,99

+0,07

+0,55%

Đậu tương

US cent/bushel

894,50

834,25

-15,00

-1,77%

Khô đậu tương

USD/tấn

338,10

323,00

-4,70

-1,43%

Dầu đậu tương

US cent/lb

29,46

28,39

-0,30

-1,05%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

511,20

485,10

-7,70

-1,56%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.465,00

2.513,00

+28,00

+1,13%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

114,10

109,90

-1,65

-1,48%

Đường thô

US cent/lb

11,51

10,96

-0,12

-1,08%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

168,75

168,80

+1,20

+0,72%

Bông

US cent/lb

84,45

87,84

-0,70

-0,79%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

538,30

520,70

+0,60

+0,12%

Cao su TOCOM

JPY/kg

169,90

173,90

+1,00

+0,58%

Ethanol CME

USD/gallon

1,44

1,40

-0,01

-0,71%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg