Năng lượng: Giá dầu tăng do lo ngại nguồn cung bị thắt chặt
Phiên cuối tuần, giá 2 loại dầu chủ chốt biến động trái chiều trong bối cảnh Mỹ tuyên bố đã gây áp lực lên các quốc gia để tuân thủ theo các lệnh trừng phạt Iran sắp tới.
Kết thúc phiên này, tại thị trường New York, giá dầu WTI giao tháng 10/2018 tăng 40 US cent (0,6%), lên 68,99 USD/thùng; trong khi đó, tại thị trường London, giá dầu Brent Biển Bắc giao tháng 11/2018 giảm 9 US cent (tương đương 0,1%) xuống 78,09 USD/thùng. Tuy nhiên, tính chung cả tuần qua, giá dầu WTI và dầu Brent đều ghi nhận mức tăng lần lượt là 1,8% và 1,6%.
Ngày 13/9, Manisha Singh, Trợ lý Bộ trưởng Bộ Kinh tế và Kinh doanh Mỹ, cho biết nước này đang chuẩn bị có những động thái mạnh mẽ nhất đối với các nước không tuân thủ các lệnh trừng phạt Iran, bao gồm cắt giảm nhập khẩu dầu từ Iran về mức 0.
Kể từ mùa Xuân năm nay, khi chính quyền Tổng thống Donald Trump tuyên bố sẽ đưa ra các biện pháp trừng phạt trên, các nhà giao dịch đã tập trung vào ảnh hưởng tiềm tàng đến nguồn cung toàn cầu. Các biện pháp trừng phạt từ tháng 11 tới sẽ nhắm vào xuất khẩu dầu của Iran – một trong những nước sản xuất dầu hàng đầu của Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC).
Bộ trưởng Năng lượng Nga Alexander Novak ngày 12/9 cảnh báo tác động của những biện pháp trừng phạt này. Ông cho rằng đây là một bất ổn lớn trên thị trường khi những nước mua gần 2 triệu thùng dầu của Iran/ngày sẽ phản ứng như thế nào.
Theo người đứng đầu Bộ Năng lượng Nga, các thị trường dầu toàn cầu “mong manh” do các nguy cơ địa chính trị và gián đoạn nguồn cung. Ông khẳng định Nga có thể tăng sản lượng nếu cần thiết.
Trong khi đó, những rủi ro bắt nguồn từ sự bất ổn tại một số thị trường mới nổi và tình hình căng thẳng thương mại toàn cầu đang đe dọa triển vọng về nhu cầu dầu mỏ. OPEC trong báo cáo tháng mới đây giảm dự đoán tăng trưởng nhu cầu đối với dầu trong năm 2019 xuống mức 1,41 triệu thùng/ngày.
Trong khi đó, thông tin từ Bloomberg cho hay, Tổng thống Mỹ Donald Trump vẫn muốn áp thuế bổ sung đối với hàng hóa Trung Quốc bất chấp những nỗ lực gần đây để tái khởi động đàm phán giữa hai cường quốc kinh tế này, đồng thời là hai nước tiêu thụ dầu hàng đầu thế giới.
Mỹ và Trung Quốc liên tục đưa ra các chính sách thương mại đối đầu nhau, làm dấy lên lo ngại về nguy cơ xảy ra chiến tranh thương mại tác động tiêu cực đến kinh tế toàn cầu. Mới đây nhất, Tổng thống Trump đe dọa sẽ áp thuế bổ sung 25% đối với lượng hàng hóa trị giá 200 tỷ USD nhập khẩu từ Trung Quốc.
Bộ trưởng Tài chính Mỹ Steven Mnuchin ngày 12/9/2018 đã gửi lời mời tới các quan chức Trung Quốc về việc khởi động lại các cuộc đàm phán thương mại giữa hai nước, dấy lên hy vọng rằng hai nền kinh tế lớn nhất thế giới có thể cùng nhau đẩy lùi cuộc chiến thương mại và giải quyết tình hình căng thẳng hiện tại thông qua đối thoại.
Tuy nhiên, Tổng thống Trump ngay lập tức đã “dội gáo nước lạnh” vào hy vọng này khi đăng trên mạng xã hội Tweeter rằng Mỹ không áp lực trong việc phải đạt được thỏa thuận thương mại với Trung Quốc.
Ngoài ra, tác động của cơn bão Florence tới hoạt động sản xuất dầu thô tại Mỹ cũng góp phần thu hẹp nguồn cung dầu toàn cầu. Cơn bão này hiện đã bị hạ xuống cấp 1 khi đổ bộ vào Carolina ngày 14/9/2018 song ngay cả khi đã hạ cấp, bão Florence được dự báo sẽ gây ra lũ lụt nghiêm trọng ở khu vực Bắc Carolina và Nam Carolina. Cơn bão Florence có khả năng gây ra gián đoạn dòng nhiên liệu được vận chuyển qua các đường ống dẫn trong khu vực.
Kim loại quý: Giá tăng nhẹ trong tuần
Phiên giao dịch cuối tuần, giá vàng giảm do một vài số liệu kinh tế tích cực của Mỹ đã hỗ trợ đồng USD. Ngoài ra, việc Tổng thống Mỹ Donald Trump vẫn muốn áp thuế bổ sung đối với hàng hóa Trung Quốc bất chấp những nỗ lực gần đây để tái khởi động đàm phán giữa hai cường quốc kinh tế này, cũng tạo sức ép lên giá vàng.
Giá vàng giao ngay mất 0,5%, xuống 1.195,21 USD, sau khi leo lên mức cao nhất kể từ ngày 28/8/2018 là 1.212,65 USD/ounce vào phiên trước đó. Tuy nhiên, tính chung cả tuần, vàng giao ngay tăng nhẹ 0,1%, đánh dấu tuần tăng đầu tiên trong ba tuần qua. Trong khi đó, giá vàng giao tháng 12/2018 mất 7,1 USD (0,6%), xuống 1.201,10 USD/ounce, song tính chung cả tuần vẫn tăng 70 US cent, sau khi giảm trong hai tuần liên tiếp trước đó.
Kể từ đầu năm tới nay, giá vàng đã giảm hơn 8%, do thị trường lo ngại về tranh chấp thương mại, sự yếu đi của đồng nội tệ tại các thị trường mới nổi và lộ trình nâng lãi suất tại Mỹ, khiến đồng USD lên giá. Đồng USD mạnh lên khiến vàng trở nên đắt đỏ hơn đối với những khách hàng sở hữu các đồng tiền khác.
Về những kim loại quý khác, giá bạc phiên cuối tuần giảm 0,4%, xuống 14,10 USD/ounce, nhưng tăng 0,1% trong tuần qua; giá palađi giảm 0,4%, xuống 978,30 USD/ounce và chứng kiến mức giảm 0,1% cả tuần; giá bạch kim cũng hạ 0,9% phiên cuối tuần, song vẫn tăng 1,9% cả tuần qua.
Theo Bộ Thương mại Mỹ, sản lượng công nghiệp của nước này tăng vượt dự kiến trong tháng Tám (0,4%), đánh dấu tháng tăng trưởng thứ ba liên tiếp. Chỉ số lòng tin tiêu dùng tháng Chín cũng cải thiện đáng kể so với tháng trước đó, tăng từ 100,8 lên 96,2. Trong khi đó, doanh số bán lẻ của Mỹ trong tháng Tám năm nay cũng tăng nhẹ 0,1%.
Giới chuyên gia nhận định giá vàng đã chịu sức ép giữa bối cảnh các nhà đầu tư tìm đến đồng USD như một kênh trú ẩn an toàn trước tình hình căng thẳng thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc, hai nền kinh tế lớn nhất thế giới. Thêm vào đó, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) được dự đoán sẽ nâng lãi suất tại cuộc họp tháng Chín và dự kiến sẽ tăng thêm một lần nữa vào tháng 12/2018 nhờ số liệu kinh tế khả quan, qua đó càng tác động tiêu cực tới thị trường vàng.
Tuy nhiên, việc các nhà đầu tư đẩy mạnh mua vào vàng khi giá kim loại quý này đang dần nhích đến ngưỡng tâm lý quan trọng là 1.200 USD/ounce đã góp phần nâng đỡ giá vàng, bất chấp những tín hiệu khả quan trong quan hệ thương mại Mỹ-Trung.
Kim loại cơ bản: Giá biến động
Phiên cuối tuần, gia đồng giảm sau khi các dữ liệu ở Trung Quốc cho thấy nền kinh tế đang bị nguội lạnh và tranh chấp thương mại tồi tệ hơn giữa Washington và Bắc Kinh khiến thị trường lo ngại nhu cầu kim loại của Trung Quốc sẽ giảm nhiều hơn dự kiến. Giá đồng tham khảo tại London (LME) đóng cửa giảm 1% xuống mức 5.973 USD/tấn. Sau thông báo về việc tổng thống Trump yêu cầu trợ lý tiến hành đánh thuế quan Trung Quốc, giá trên sàn giao dịch điện tử tiếp tục sụt giảm mạnh nữa. Tuy nhiên, tính chung cả tuần giá vẫn tăng nhẹ.
Cũng phiên cuối tuần, giá thép tại Trung Quốc tăng do các số liệu cho thấy dự trữ chỉ tăng nhẹ, sản xuất giảm trong khi nhu cầu mạnh. Giá thép tại Thượng Hải tăng 1% lên 4.093 CNY (597,81 USD)/tấn.
Dự trữ các sản phẩm thép chỉ tăng 19.900 tấn lên 10 triệu tấn trong tuần này, trong khi dự trữ thép xây dựng tăng 0,2% lên 4.33 triệu tấn và thép cuộn cán nóng giảm 1% xuống 2,07 triệu tấn.
Sản lượng giảm trong khi nhu cầu ổn định giúp giảm bớt lo ngại về nguồn cung tăng trong mùa đông sắp tới nếu Trung Quốc áp dụng các biện pháp chống ô nhiễm linh hoạt hơn. Sản lượng thép thô trung bình hàng ngày của Trung Quốc giảm trong tháng 8 xuống mức thấp nhất kể từ tháng 4/2018.
Nông sản: Giá đường tăng
Phiên cuối tuần, giá đường thô giao tháng 10/2018 giảm 0,25 US cent tương đương 4,5% xuống 11,16 US cent/lb, mức giảm mạnh nhất kể từ 4/6/2018.Tuy nhiên, tính chung cả tuần giávẫn tăng. Đường trắng giao tháng 12/2018 giảm 10,90 USD, tương đương 3,1%, xuống còn 339,70 USD/tấn.
Cà phê arabica giao tháng 12/2018 giảm 0,05 US cent tương đương 0,9% xuống 99,7 US cent/lb, đường trắng giao tháng 11/2018 giảm 11 USD tương đương 0,73% xuống 1.489 USD/tấn.
Giá ngũ cốc phiên cuối tuần biến động trái chiều. Giá ngô giao tháng 12/2018 giảm 4,16% (15,25 US cent) xuống mức 3,5175 USD/bushel trong tuần qua. Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) nâng dự báo sản lượng ngô Mỹ vượt mức dự báo các nhà phân tích đưa ra.
Giá lúa mỳ giao tháng 12/2018 tăng 0,05% (0,25 US cent) lên 5,115 USD/bushel; giá đậu tương giao tháng 11/2018 giảm 1,6% (13,5 US cent) xuống 8,305 USD/bushel.
Hiện thị trường sẽ dồn nhiều sự chú ý hơn vào các báo cáo vụ thu hoạch giữa bối cảnh tình trạng mưa nặng hạt sẽ tái diễn ở vùng Midwest của Mỹ kể từ tuần này và đầu tháng 10/2018 dự báo đón đợt thời tiết khô hạn hơn. Các nhà đầu tư cũng nghe ngóng lo ngại về tình trạng mưa kéo dài tại Siberia.
Giá cao su tại Tokyo tăng cao do kỳ vọng nhu cầu theo mùa tăng mạnh. Giá cao su Tokyo giao tháng 2/2019 chốt phiên tăng 0,3 JPY (0,0027 USD) đạt 167,9 JPY/ kg. Tính chung cả tuần, giá cao su TOCOM tăng 2 JPY/kg. Giá cao su giao tháng 1/2019 tại Thượng Hải giảm 15 CNY(2,19 USD) xuống còn 12.330 CNY/tấn. Giá hợp đồng cao su tại SICOM giao tháng 10/2019 chốt phiên ở mức 132,9 cent Mỹ/kg, giảm 0,7 cent.
Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá 8/9

Giá 15/9

So 15/9 với 14/9

So 15/9 với 14/9 (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

67,75

68,85

-0,14

-0,20%

Dầu Brent

USD/thùng

76,83

77,91

-0,18

-0,23%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

49.930,00

50.890,00

-130,00

-0,25%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,78

2,78

+0,01

+0,51%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

197,00

197,69

+0,67

+0,34%

Dầu đốt

US cent/gallon

221,82

220,83

-0,09

-0,04%

Dầu khí

USD/tấn

677,25

679,00

-1,00

-0,15%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

68.230,00

69.340,00

+10,00

+0,01%

Vàng New York

USD/ounce

1.200,40

1.199,10

-2,00

-0,17%

Vàng Tokyo

JPY/g

4.258,00

4.287,00

-35,00

-0,81%

Bạc New York

USD/ounce

14,17

14,11

-0,03

-0,23%

Bạc TOCOM

JPY/g

50,90

51,10

-0,20

-0,39%

Bạch kim

USD/ounce

782,27

795,38

-0,47

-0,06%

Palladium

USD/ounce

980,28

979,76

+1,21

+0,12%

Đồng New York

US cent/lb

262,25

262,40

-2,20

-0,83%

Đồng LME

USD/tấn

5.933,00

5.973,00

-60,00

-0,99%

Nhôm LME

USD/tấn

2.070,00

2.043,00

-21,00

-1,02%

Kẽm LME

USD/tấn

2.420,00

2.334,00

-26,00

-1,10%

Thiếc LME

USD/tấn

19.055,00

19.040,00

+15,00

+0,08%

Ngô

US cent/bushel

367,00

350,25

-1,50

-0,43%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

511,25

515,00

+3,50

+0,68%

Lúa mạch

US cent/bushel

247,25

241,75

-0,75

-0,31%

Gạo thô

USD/cwt

10,95

10,49

-0,28

-2,60%

Đậu tương

US cent/bushel

844,00

826,50

-4,00

-0,48%

Khô đậu tương

USD/tấn

317,00

307,50

-1,20

-0,39%

Dầu đậu tương

US cent/lb

28,27

27,71

-0,05

-0,18%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

495,50

490,10

-0,80

-0,16%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.259,00

2.219,00

-96,00

-4,15%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

102,45

99,70

-0,95

-0,94%

Đường thô

US cent/lb

11,01

12,02

-0,43

-3,45%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

156,80

153,50

-0,10

-0,07%

Bông

US cent/lb

81,99

81,58

-0,25

-0,31%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

382,50

370,00

-8,50

-2,25%

Cao su TOCOM

JPY/kg

167,00

167,20

-0,70

-0,42%

Ethanol CME

USD/gallon

1,29

1,28

+0,00

+0,16%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg