Năng lượng: Giá dầu thô giảm tuần thứ ba liên tiếp
Phiên giao dịch cuối tuần, giá dầu tăng bởi các nhà đầu tư kỳ vọng vào cuộc đàm phán trở lại giữa Mỹ và Trung Quốc. Kết thúc phiên, dầu ngọt nhẹ (WTI) Mỹ giao tháng 9/2018 trên sàn New York tăng 0,45 USD (tương đương 0,7%) lên 65,91 USD/thùng; dầu brent Biển Bắc giao tháng 10/2018 cũng tăng 0,40 USD (0,6%) trên sàn London lên 71,83 USD/thùng.
Tuy nhiên, tính chung cả tuần qua, dầu WTI giảm 2,5%, trong khi dầu Brent mất 1,3%, đều ghi dấu tuần thứ 3 liên tiếp giảm.
Theo Eugen Weinberg, người đứng đầu bộ phận nghiên cứu hàng hóa tại Commerzbank (Đức), hiện thị trường vẫn quan ngại rằng tình hình căng thẳng thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc, hai nước tiêu thụ dầu mỏ lớn nhất thế giới, cũng như cuộc khủng hoảng tài chính tại Thổ Nhĩ Kỳ có thể ảnh hưởng tới triển vọng nhu cầu dầu trên toàn cầu.
Theo ông Jim Ritterbusch, người đứng đầu công ty chuyên nghiên cứu và đầu tư trong lĩnh vực năng lượng Ritterbusch and Associates, Thổ Nhĩ Kỳ là một thị trường tiêu thụ dầu tương đối nhỏ với chỉ khoảng 1 triệu thùng/ngày, tương đương 1% nhu cầu toàn cầu. Tuy nhiên, tâm lý của nhà đầu tư vẫn bị tác động bới những e ngại về nguy cơ một cuộc khủng hoảng tương tự sẽ xảy ra tại các nền kinh tế mới nổi khác.
Ngoài ra, việc đồng USD mạnh lên và dự trữ dầu thô của Mỹ bất ngờ tăng cao hơn dự kiến cũng phủ bóng đen lên thị trường dầu mỏ.
Số liệu do Cơ quan Thông tin năng lượng Mỹ (EIA) công bố ngày 15/8 cho thấy lượng dầu thô dự trữ của nước này đã tăng thêm 6,8 triệu thùng trong tuần kết thúc vào ngày 10/8, trái ngược với dự báo giảm 2,4 triệu thùng. Riêng lượng dầu trữ trong kho tại trung tâm giao chuyển dầu WTI ở Cushing, Oklahoma, đã tăng khoảng 1,6 triệu thùng trong thời gian này.
Trong khi đó, về mặt nguồn cung, sản lượng dầu tại Libya được dự đoán sẽ tăng trở lại mức hơn 1 triệu thùng/ngày lần đầu tiên kể từ tháng 6/2018 do sản lượng tại mỏ dầu lớn nhất của nước này đã trở lại mức bình thường.
Báo cáo hàng tuần của công ty dịch vụ dầu khí Baker Hughes cho biết số giàn khoan dầu đang hoạt động tại Mỹ trong tuần qua không thay đổi so với tuần trước đó và ở mức 869 giàn.
Ngân hàng Commerzbank nhận định giữa lúc mùa du lịch Hè đang vào giai đoạn cuối, lượng nhiên liệu tiêu thụ có thể giảm dần sau khi đạt “đỉnh” vào thời gian trước đó. Yếu tố duy nhất có thể hỗ trợ thị trường dầu mỏ trong thời gian tới chỉ có thể là lệnh cấm vận của Mỹ đối với hoạt động xuất khẩu dầu của Iran, bắt đầu có hiệu lực từ tháng 11/2018.
Trái với xu hướng giảm của giá dầu, giá than cốc tăng cao do dự trữ than tại Trung Quốc giảm xuống mức thấp nhất trong hai năm và sản lượng giảm. Giá than cốc kỳ hạn giao sau tại Đại Liên chốt phiên tăng gần 8% lên mức kỷ lục 2.720,50 NDT(396 USD)/tấn, mức cao nhất kể từ 2011.
Kim loại quý: Giá vàng giảm mạnh nhất hơn 1 năm
Phiên giao dịch cuối tuần, giá vàng giao ngay tăng nhẹ 0,31% lên 1.177,21 USD/oune, vàng giao tháng 12/2018 cũng nhích 0,20 USD lên 1.184,20 USD/ounce. Tuy nhiên tính chung cả tuần, giá vàng giao ngay giảm 2,7% (tuần giảm thứ sáu liên tiếp), trong khi vàng giao sau giảm gần 2,9% (nhiều nhất mạnh kể từ 5/5/2017).
Cũng trong phiên cuối tuần, giá bạc tăng 0,3% lên 14,66 USD/ounce song vẫn mất hơn 4% cả tuần; giá bạch kim tăng 0,2% lên 778,40 USD/ounce, nhưng cả tuần vẫn giảm mạnh nhất kể từ tháng 11/2015 (khi mất 6%).
Giá vàng kỳ hạn đã lao dốc gần 10% từ đầu năm đến nay, bất chấp tình hình bất ổn địa chính trị xoay quanh những lo ngại về chiến tranh thương mại và khủng hoảng tài chính tại Thổ Nhĩ Kỳ, vì sự chú ý dường như chỉ xoay quanh xu thế dịch chuyển của đồng USD.
Đồng USD, dù giảm nhẹ trong tuần qua, song đã vọt 4,5% từ đầu năm đến nay, chính là yếu tố đè nặng lên giá vàng.
Đồng USD và lợi suất trái phiếu của Mỹ đang đi lên khi các nhà đầu tư tìm đến các kênh an toàn vì lo ngại thị trường tài chính biến động sau sự sụt giá của đồng lira (Thổ Nhĩ Kỳ). Kể từ đầu năm nay, đồng nội tệ của Thổ Nhĩ Kỳ đã giảm hơn 40% so với đồng USD, do lo ngại về chính sách của Tổng thống Tayyip Erdogan kiểm soát nền kinh tế và quan hệ ngoại giao căng thẳng với Mỹ. Thông thường, giới đầu tư sẽ tìm đến vàng như một "kênh trú ẩn an toàn" trong thời kỳ bất ổn nhưng trong năm nay, kim loại quý này đã không được hưởng lợi từ diễn biến này, khi các nhà đầu tư chuyển hướng tới trái phiếu của Mỹ và mua đồng USD.
Một số chuyên gia cho rằng vàng sẽ rơi xuống mức 1.150 USD/ounce trước khi có thể phục hồi giữa bối cảnh không có yếu tố lớn nào có thể hỗ trợ giá kim loại quý này.
Kim loại công nghiệp: Giá đồng và thép cùng giảm
Phiên cuối tuần, giá đồng giảm nhẹ, mất 0,2% xuống còn 5,927 USD/tấn và tính chung cả tuần giảm hơn 4%, nhiều nhất kể từ đầu tháng 7, do cuộc đình công tại mỏ đồng lớn nhất thế giới cơ bản được giải quyết.
Giá thép cuộn cán nóng của Mỹ giảm xuống mức thấp nhất kể từ ngày 1/6 do các nhà máy giảm giá, nhu cầu tiêu thụ yếu. Giá thép cuộn dây cán nóng của Mỹ giảm 7,25 USD/ tấn ngắn (1 tấn ngắn=907,18 kg) xuống 894 USD/tấn ngắn, giảm 2,9% so với mức cao của tháng 7 trong khi giá thép cuộn cán nguội của Mỹ giảm 3,75 USD/tấn ngắn xuống 1.000 USD/tấn ngắn.
Nông sản: Giá đường và cà phê giảm
Phiên cuối tuần, giá cà phê arabica kỳ hạn giao sau giảm 0,65 UScent, tương đương 0,62%, xuống mức 1,047 USD/lb và chạm mức 1.0385 USD, mức thấp nhất kể từ năm 2008. Tính chung cả tuần giá giảm 5%. Cà phê robusta giao tháng 11/2018 giảm 36 USD, tương đương 2,26%, ở mức 1.560 USD/tấn sau khi chạm mức 1.544 USD, mức thấp nhất kể từ tháng 4/2016.
Đồng real Brazil tiếp tục yếu so với USD thúc đẩy hoạt động bán ra và nguồn cung lớn.
Đường cũng giảm giá bởi lý do tương tự. Phiên cuối tuần, đường thô kỳ hạn giao sau giảm 0,12 UScent, tương đương 1,17%, còn 10,18 UScent/lb sau khi chạm mức 10,11 UScent, mức thấp nhất kể từ tháng 6/2008. Giá đã giảm 3,4% trong tuần này do các yếu tố kỹ thuật yếu, đồng real Brazil giảm. Đường trắng giao tháng 10 giảm 3,70 USD, tương đương 1,19%, xuống 307,50 USD/tấn sau khi trượt xuống mức 306,30 USD, mức thấp nhất kể từ tháng 12/2008.
Trong khi đó, giá ngũ cốc có chiều hướng tích cực. Giá lúa mỳ tại Mỹ đã tăng lên mức cao nhất hơn một tuần do lo ngại Nga có thể sẽ giảm xuất khẩu ngũ cốc trong lúc nguồn cung toàn cầu thắt chặt sau khi hạn hán đã gây giảm thu hoạch từ Biển Đen đến Châu Âu và Australia.
Giá lúa mỳ kỳ hạn tăng 13-1/2 UScent lên 5,75-1/2 USD/bushel sau khi đã lên tới 5.82-3/4 USD/bushel, mức giá cao nhất kể từ 7/8/2018.
Nga sẽ xem xét hạn chế xuất khẩu trong năm 2018-19 nếu xuất khẩu lên tới 30 triệu tấn, theo yêu cầu của các khu vực sản xuất thịt.
Theo Arlan Suderman, chuyên gia kinh tế hàng đầu của nhà môi giới Mỹ INTL FCStone, nếu Nga hạn chế xuất khẩu, nhu cầu tiêu thụ lúa mỳ của EU sẽ tăng lên song do thu hoạch của khối đã thiệt hại bởi khô hạn nên nhu cầu sẽ chuyển sang Mỹ.
Giá cao su hợp đồng giao tháng 1/2019 tại Tokyo chốt phiên cuối tuần tăng 0,7 JPY, tương đương 0,4%, lên 168,7 JPY(1,52 USD)/kg, khi nhà đầu tư tăng cường mua sau khi giá chạm mức thấp 22 tháng vào phiên gần trước. Giá thép kỳ hạn giao ngay tại Thượng Hải chốt phiên giảm 35 CNY, hay 0,3%, còn 11.890 NDT (1.728 USD)/tấn. 

Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá 4/8

Giá 18/8

Giá 18/8 so với 17/8

Giá 18/8 so với 17/8 (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

67,63

65,91

+0,45

+0,69%

Dầu Brent

USD/thùng

72,81

71,83

+0,40

+0,56%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

48.740,00

47.710,00

+100,00

+0,21%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,94

2,95

+0,04

+1,31%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

203,92

198,09

-0,65

-0,33%

Dầu đốt

US cent/gallon

213,97

209,82

+0,18

+0,09%

Dầu khí

USD/tấn

656,50

646,75

+5,00

+0,78%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

66.450,00

65.520,00

-120,00

-0,18%

Vàng New York

USD/ounce

1.219,00

1.184,20

+0,20

+0,02%

Vàng Tokyo

JPY/g

4.312,00

4.200,00

+26,00

+0,62%

Bạc New York

USD/ounce

15,30

14,63

-0,08

-0,56%

Bạc TOCOM

JPY/g

54,60

52,30

+0,30

+0,58%

Bạch kim

USD/ounce

827,63

788,88

+9,12

+1,17%

Palladium

USD/ounce

910,61

914,47

+27,64

+3,12%

Đồng New York

US cent/lb

274,25

262,90

+1,25

+0,48%

Đồng LME

USD/tấn

6.190,00

5.926,00

-12,00

-0,20%

Nhôm LME

USD/tấn

2.105,00

2.030,00

-18,00

-0,88%

Kẽm LME

USD/tấn

2.547,00

2.389,50

-2,50

-0,10%

Thiếc LME

USD/tấn

19.500,00

18.705,00

+90,00

+0,48%

Ngô

US cent/bushel

369,25

378,75

-1,00

-0,26%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

567,50

579,75

+17,75

+3,16%

Lúa mạch

US cent/bushel

268,75

267,00

+3,50

+1,33%

Gạo thô

USD/cwt

10,55

10,35

-0,11

-1,05%

Đậu tương

US cent/bushel

855,25

892,75

-4,25

-0,47%

Khô đậu tương

USD/tấn

321,80

332,40

-4,60

-1,36%

Dầu đậu tương

US cent/lb

28,31

28,56

+0,08

+0,28%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

503,50

510,90

+0,50

+0,10%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.118,00

2.149,00

-9,00

-0,42%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

110,05

104,70

-0,65

-0,62%

Đường thô

US cent/lb

10,54

10,18

-0,12

-1,17%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

161,80

157,35

+1,75

+1,12%

Bông

US cent/lb

84,84

81,39

-0,41

-0,50%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

414,90

472,50

+15,00

+3,28%

Cao su TOCOM

JPY/kg

171,50

167,90

-0,10

-0,06%

Ethanol CME

USD/gallon

1,34

1,36

-0,01

-0,44%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg