Năng lượng: Dầu thô tăng giá tuần thứ 3 liên tiếp
Mặc dù biến động khá thất thường trong tuần, song với đà tăng ở phiên cuối tuần, thị trường dầu mỏ thế giới vẫn ghi nhận tuần đi lên thứ ba liên tiếp.
Phiên cuối tuần, dầu ngọt nhẹ (WTI) giao tháng 2/2019 tại thị trường New York tăng 1,73 USD (3,3%), lên 53,80 USD/thùng; dầu Brent Biển Bắc giao tháng 3/2019 trên thị trường London cũng tăng 1,52 USD (2,5%), lên 62,7 USD/thùng. Tính chung cả tuần qua, giá dầu WTI tăng 4,3%, còn dầu Brent tăng 3,7%.
Theo báo cáo cùng ngày của công ty dịch vụ dầu khí Baker Hughes, số giàn khoan đang hoạt động tại Mỹ đã giảm 21 giàn, xuống còn 852 giàn khoan trong tuần kết thúc ngày 18/1/2019, đánh dấu tuần giảm thứ ba liên tiếp và là tuần giảm mạnh nhất kể từ tháng 2/2016. Điều này báo hiệu sản lượng dầu tại Mỹ có thể giảm trong thời gian tới, qua đó hỗ trợ đà tăng của giá dầu mỏ.
Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) thông báo đã cắt giảm sản lượng 751.000 thùng dầu/ngày trong tháng 12/2018 trước khi thỏa thuận mới về việc hạn chế nguồn cung dầu có hiệu lực, cho thấy tổ chức này đã tạo một bước khởi đầu khá rắn chắc trong việc ngăn chặn tình trạng dư cung trong năm 2019.
Các tín hiệu lạc quan về đàm phán thương mại Mỹ-Trung đã đẩy lùi lo ngại về cuộc chiến thương mại giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới. Ngoài ra, những số liệu mới nhất cho thấy sản lượng dầu toàn cầu có xu hướng giảm cũng góp phần hỗ trợ giá mặt hangfn ày.
Theo Gene McGillian, Giám đốc mảng nghiên cứu thị trường của Tradition Energy ở Stamford (Mỹ), những lo ngại về nguy cơ nền kinh tế suy giảm trong năm 2019 dường như đã tạm lắng xuống khi thị trường đón nhận những thông tin báo hiệu rằng nền kinh tế có thể diễn tiến tốt hơn dự kiến.
Kim loại quý: Vàng giảm tuần đầu tiên trong vòng 5 tuần
Phiên cuối tuần, giá vàng giao tháng 2/2019 giảm 9,7 USD (0,8%), xuống 1.282,60 USD/ounce. Tính chung cả tuần qua, giá vàng này đã giảm 0,5%, sau khi tăng ba tuần liên tiếp trước đó. Đây cũng là mức đóng cửa thấp nhất kể từ đầu năm 2019 đến nay của vàng kỳ hạn. Trong khi đó, giá vàng giao ngay cũng mất 0,6% trong phiên này, xuống 1.283,19 USD/ounce, chạm mức thấp nhất kể từ ngày 9/1/2019.
Trong số các dữ liệu kinh tế vừa công bố, chỉ số lòng tin tiêu dùng của Mỹ trong tháng 1/2019 giảm từ 98,3 xuống 90,7 - mức thấp nhất kể từ tháng 10/2016, nhưng sản xuất công nghiệp tháng 12/2018 lại tăng 0,3%, phù hợp với dự báo của Phố Wall.
Về những kim loại quý khác, giá bạc giao tháng 3/2019 lùi 0,9% xuống 15,399 USD/ounce, qua đó góp phần nâng tổng mức giảm trong tuần lên 1,6%; giá bạch kim giao tháng 4/2019 mất 1,3% còn 802,10 USD/ounce và giảm 1,9% trong tuần qua. Palađi cũng giảm giá trong phiên cuối tuần bởi tăng quá nhanh trong những phiên trước đó. Kim loại quý này giảm 1,5% xuống 1.375 USD/ounce, từ mức cao kỷ lục lịch sử 1.434,5 USD của phiên trước. Tuy nhiên, tính chung cả tuần giá vẫn tăng tuần thứ 4 liên tiếp.
Kim loại công nghiệp: Giá tăng
Phiên cuối tuần, giá đồng, nickel và kẽm đều đạt kỷ lục cao nhất trong vòng nhiều tuần bởi lạc rằng Trung Quốc – nước tiêu thụ kim loại lớn nhất thế giới – sắp giải quyết được khúc mắc với Mỹ trong lĩnh vực thương mại.
Kết thúc phiên, với hợp đồng giao sau 3 tháng trên sàn London, đồng tăng 1% lên 6.052 USD/tấn (trước đó có lúc đạt 6.071 USD/tấn, cao nhất kể từ 28/12/18); kẽm tăng 1,3% lên 2.580 USD/tấn (có lúc đạt 2.595 USD/tấn, cao nhất kể từ 28/12); nickel tăng 2% lên 11.820 USD/tấn, cao nhất kể từ 7/11/2018. Các kim loại khác như nhôm, thíc và chì cũng đồng loạt đi lên.
Giá quặng sắt và thép trên thị trường Trung Quốc cũng tăng trong phiên cuối tuần, theo đó quặng sắt đạt mức cao nhất trong vòng hơn 10 tháng, còn thép cây dùng trong xây dựng có tuần tăng giá mạnh nhất trong vòng hơn 1 tháng. Lý do bởi lạc quan về tiến triển trong các cuộc đàm phán thương mại Mỹ - Trung.
Trang Wall Street Journal đưa tin, Bộ trưởng Tài chính Mỹ đã bàn về việc sẽ dỡ bỏ một phần hoặc toàn bộ thuế đối với hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc. Được biết, hai bên sẽ gặp nhau vào ngày 30/1/2019 để bàn về vấn đề này.
Quặng sắt giao dịch trên sàn Đại Liên tăng 3,2% lên 528 CNY (78,01 USD)/tấn vào cuối phiên, trong phiên có lúc đạt 530 CNY, cao nhất kể từ đầu tháng 3 năm ngoái. Trong khi đó, thép cây giao dịch trên sàn Thượng Hải tăng 2,3% lên 3.633 CNY/tấn vào cuối phiên, trong ngày có lúc đạt 3.636 CNY, và là tuần thứ 6 tăng giá trong 7 tuần vừa qua. Thép cuộn cán nóng tăng 1,9% lên 3.518 CNY/tấn.
Nông sản: Biến động trái chiều
Trong nhóm lương thực, thực phẩm, giá ngô và đậu tương trên thị trường Mỹ tăng phiên thứ 3 liên tiếp trong xu hướng chung của thị trường hàng hóa bởi lạc quan rằng Mỹ sẽ giải quyết được vấn đề thuế quan với Trung Quốc. Đậu tương giao tháng 3 trên sàn Chicago tăng 9 US cent lên 9,16-3/4 USD/bushel, ngô giao cùng kỳ hạn tăng 1-3/4 US cent lên 3,81-3/4 USD, trong khi lúa mì vững ở 5,17-3/4 USD/bushel. Tính chung cả tuần, ngô à đậu tương tăng tuần thứ 2 trong số 6 tuần qua, thêm lần lượt 0,9 và 0,7%, còn riêng lúa mì mất 0,3% - giảm tuần đầu tiên trong vòng 3 tuần.
Giá lợn trên thị trường Mỹ cũng tăng bởi lý do tương tự như với các mặt hàng khác. Lợn sống loại siêu nạc kỳ hạn giao tháng 2 tăng 0,375 US cent lên 61,225 US cent/lb; kỳ hạn tháng 4 – giao dịch nhiều nhất – tăng 1,650 US cent lên 66,275 US cent/lb.
Giá cà phê arabica trên sàn New York tăng 2,55 US cent tương đương 2,49% lên 1,0495 USD/lb, tính chung cả tuần tăng 1%, được thúc đẩy bởi hoạt đông mua mạnh do các yếu tố kỹ thuật và lo ngại về thời tiết khô và nóng ở Brazil. Robusta tương tự cũng tăng 9 USD tương đương 0,5% lên 1.544 USD/tấn.
Đường tăng theo xu hướng giá dầu thô, với đường thô giao tháng 3 tăng 0,18 US cent tương đương 1,4% lên 13,03 US cent/lb, tính chung cả tuần tăng 2%. Đường trắng cũng tăng 4,7 USD tương đương 1,35% lên 353,2 USD/tấn.
Giá dầu cọ trên thị trường Malaysia tăng phiên thứ 2 liên tiếp lên mức cao nhất gần 3 tháng do dầu thô tăng và hoạt động mua mang tính kỹ thuật.
Dầu cọ giao tháng 4 năm nay trên sàn Bursa tăng 1,3% lên 2.226 ringgit (541,61 USD)/tấn vào cuối phiên, trước đó có lúc đạt 2.228 ringgit, cao nhất kể từ 22/10/2018. Tính chung cả tuần, giá tăng 2,4%, là tuần thứ 2 tăng liên tiếp.
Giá cacao giảm trong phiên cuối tuần cũng như cả tuần. Hợp đồng giao tháng 5 trên sàn London giảm 11 GBP hay 0,6% xuống 1.690 GBP/tấn, tính chung cả tuần giảm 2,2%. Trên sàn New York, cacao giao cùng kỳ hạn cũng giảm 40 USD tương đương 1,6% xuống 2.340 USD/tấn, và cả tuần giảm 2%.
Số liệu về quý 4/2018 cho thấy lượng xay nghiền của Châu Âu và Bắc Mỹ ít hơn dự kiến (tại Bắc Mỹ chỉ tăng 1,25% trong quý 4/2018 so với quý 4/2017), còn tại Châu Á tăng 6,3% lên 208.900 tấn, cao nhất kể từ khi Hiệp hội Cacao Châu Á bắt đầu lưu số liệu (năm 2011).
Trong nhóm rau gia vị, giá gừng trên thị trường Trung Quốc năm nay cao do mưa nhiều ở các khu vực sản xuất trong năm vừa qua dẫn đến sản lượng chung và chất lượng củ đều sụt giảm. Do đó, nông dân Trung Quốc đang kế hoạch sẽ tăng diện tích trồng gừng trong vụ tiếp the (sẽ trồng trong vòng 3 tháng tới). Trung Quốc xuất khẩu gừng sang Châu Âu, Châu Mỹ và Trung Đông, trong đó Châu Âu chiếm thị phần lớn nhất.
Đối với mặt hàng tỏi, trong thập kỷ vừa qua, giá tại Trung Quốc đã chạm đáy trong khi chi phí sản xuất tăng. Năm 2018, diện tích trồng tỏi tăng khá nhiều, sản lượng do đó tăng theo. Do tỏi là gia vị và mức tiêu thụ hàng ngày trên thị trường tương đối ổn định nên sản lượng tăng thì giá ắt sẽ giảm. Năm 2018, giá tỏi đã xuống chỉ 0,3-0,5 CNY/kg. Sản lượng tỏi tại các nước khác cũng cao càng gây áp lực tới giá trên thị trường Trung Quốc.
Nhưng năm 2019 tình hình có vẻ khác, giá dự báo sẽ tăng, mặc dù không nhiều, do diện tích trồng tỏi giảm xuống, ước tính giảm khoảng 30% so với năm trước. Tuy nhiên, sản lượng sẽ không giảm nhiều nên giá khó tăng mạnh.
Trong nhóm cây công nghiệp, giá cao su trên sàn Tokyo tăng lên mức cao nhất một tuần rưỡi bởi lạc quan về cuộc đàm phán Mỹ - Trung và đồn đoán nguồn cung sẽ khan hiếm đối với những hợp đồng kỳ hạn giao gần, nhất là vào tháng 1 và 2/2019.
Hợp đồng cao su giao tháng 6/2019 tăng 1,4 JPY lên 186,2 JPY (1,8 USD)/kg vào cuối phiên, trước đó có lúc giá đạt 186,4 JPY, cao nhất kể từ 9/1/2019. Trên sàn Thượng Hải, giá cao su kỳ hạn giao tháng 5 cũng tăng 30 CNY lên 11.660 CNY (1.722 USD)/tấn.
Giá bông trên thị trường New York giảm trong phiên vừ qua, sau khi đạt mức cao nhất gần 1 tháng ở phiên trước đó, do thị trường lo ngại những thông tin về việc Mỹ - Trung sắp giải quyết được bất đồng chỉ là lạc quan tếu. Bông giao tháng 3 giảm 0,48 US cent tương đương 0,65% xuống 73,89 US cent/lb, giao dịch trong khoảng 73,76 đến 74,66 US cent. Bông đã mất giá hơn 8% trong năm 2018, là năm giarmthws 4 liên tiếp, do những bất đồng dai dẳng giữa Mỹ và Trung Quốc – nước xuất khẩu lớn nhất thế giới với nước tiêu thụ lớn nhất thế giới.
Các thị trường nông sản Mỹ sẽ đóng cửa giao dịch trong ngày 21/1/2019 nhân ngày tưởng nhớ mục sư Martin Luther King Jr.
Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá 12/1

Giá 19/1

19/1 so với 18/1

19/1 so với 18/1 (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

51,59

53,80

+1,73

+3,32%

Dầu Brent

USD/thùng

60,48

62,70

+1,52

+2,48%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

39.810,00

41.600,00

+650,00

+1,59%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

3,10

3,48

+0,07

+2,02%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

140,07

145,28

+2,28

+1,59%

Dầu đốt

US cent/gallon

187,97

191,60

+3,17

+1,68%

Dầu khí

USD/tấn

569,25

575,00

+11,00

+1,95%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

55.270,00

57.690,00

+840,00

+1,48%

Vàng New York

USD/ounce

1.289,50

1.282,60

-9,70

-0,75%

Vàng Tokyo

JPY/g

4.483,00

4.513,00

-11,00

-0,24%

Bạc New York

USD/ounce

15,66

15,40

-0,14

-0,88%

Bạc TOCOM

JPY/g

54,70

54,20

-0,30

-0,55%

Bạch kim

USD/ounce

810,16

797,66

-12,68

-1,56%

Palladium

USD/ounce

1.323,25

1.381,42

-18,07

-1,29%

Đồng New York

US cent/lb

266,20

271,90

+3,90

+1,46%

Đồng LME

USD/tấn

5.942,00

6.052,00

+60,00

+1,00%

Nhôm LME

USD/tấn

1.836,00

1.870,00

+12,00

+0,65%

Kẽm LME

USD/tấn

2.492,00

2.580,00

+33,00

+1,30%

Thiếc LME

USD/tấn

20.300,00

20.625,00

+40,00

+0,19%

Ngô

US cent/bushel

378,25

381,75

+1,75

+0,46%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

519,50

517,75

0,00

0,00%

Lúa mạch

US cent/bushel

294,75

298,75

+3,00

+1,01%

Gạo thô

USD/cwt

10,77

10,63

+0,13

+1,19%

Đậu tương

US cent/bushel

910,25

916,75

+9,00

+0,99%

Khô đậu tương

USD/tấn

314,60

315,10

+2,90

+0,93%

Dầu đậu tương

US cent/lb

28,41

29,01

+0,24

+0,83%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

483,30

484,20

+1,00

+0,21%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.356,00

2.307,00

-28,00

-1,20%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

103,85

104,95

+2,55

+2,49%

Đường thô

US cent/lb

12,78

13,03

+0,18

+1,40%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

121,00

119,85

+0,35

+0,29%

Bông

US cent/lb

72,49

73,89

-0,48

-0,65%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

343,20

354,90

-4,50

-1,25%

Cao su TOCOM

JPY/kg

183,20

186,20

0,00

0,00%

Ethanol CME

USD/gallon

1,29

1,28

+0,01

+0,79%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg, CafeF