Trên thị trường năng lượng, giá dầu tăng trong bối cảnh nguồn cung bị thắt chặt (xuất khẩu dầu thô từ Saudi Arabia sụt giảm, dự trữ dầu và số lượng giàn khoan dầu của Mỹ sụt giảm).
Kết thúc phiên giao dịch, dầu ngọt nhẹ Mỹ (WTI) tăng 0,24 USD lên 64 USD/thùng, tính từ đầu tuần đến nay, dầu WTI tăng 0,2%, hướng đến tuần tăng giá thứ bảy liên tiếp; dầu Brent Biển Bắc tăng 0,35 USD lên 71,97 USD/thùng, so với mức chốt phiên trước đó và gần mức cao của 5 tháng là 72,27 USD/thùng đã đạt được trong phiên ngày 17/4. Dầu Brent cũng hướng đến tuần tăng giá 0,6% và là tuần tăng thứ 4 liên tiếp.
Theo số liệu về dầu mỏ từ tổ chức mang tên Sáng kiến Dữ liệu chung (JODI), xuất khẩu dầu thô của Saudi Arabia trong tháng 2/2019 đã giảm khoảng 277.000 thùng so với tháng trước đó xuống dưới 7 triệu thùng/ngày. Saudi Arabia là thành viên chủ chốt của Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC).
Trong khi số liệu từ Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) cho hay dự trữ xăng, dầu và các sản phẩm chưng cất của Mỹ đã giảm trong tuần này, trong đó lượng dầu thô bất ngờ ghi nhận mức sụt giảm lần đầu tiên trong bốn tuần.
Ngoài ra, các công ty năng lượng Mỹ trong tuần này đã cắt giảm số lượng giàn khoan dầu lần đầu tiên trong ba tuần do dự báo mức tăng sản lượng dầu khí đá phiến tiếp tục giảm.
Trong báo cáo hàng tuần, công ty dịch vụ năng lượng Baker Hughes thuộc General Electric Co's cho biết số lượng giàn khoan dầu của Mỹ đã giảm tám giàn trong tuần kết thúc ngày 18/4/2019.
Gene McGillian, phó chủ tịch phụ trách mảng nghiên cứu thị trường của Tradition Energy, trụ sở ở Stamford, Connecticut (Mỹ), nhận định có dấu hiệu khá rõ ràng rằng nguồn cung trên thị trường đang thắt chặt và thị trường bớt quan ngại về nhu cầu tiêu thụ dầu là những yếu tố thúc đẩy giá “vàng đen” tăng cao.
Trước đó, giá dầu đã được tiếp sức nhờ thỏa thuận cắt giảm sản lượng dầu khoảng 1,2 triệu thùng/ngày (từ đầu năm nay) đã đạt được giữa các OPEC và các đồng minh, trong đó có Nga. Tiếp đó, nguồn cung dầu trên toàn cầu đã tiếp tục thắt chặt hơn sau khi Mỹ áp đặt các lệnh trừng phạt đối với Venezuela và Iran.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng duy trì quanh mức thấp nhất 4 tháng khi đồng USD mạnh lên theo sau số liệu khả quan về doanh số bán lẻ tại Mỹ.
Cuối phiên giao dịch, vàng giao ngay vững ở mức 1.274,16 USD/ounce sau khi trong phiên có lúc rơi xuống 1.270,63 USD/ounce, mức thấp nhất kể từ ngày 27/12, kim loại quý này đã giảm hơn 1% từ đầu tuần đến nay và đang hướng đến tuần giảm thứ tư liên tiếp. Vàng giao sau khép phiên giảm 0,1% xuống 1.276 USD/ounce.
Thống kê này là dấu hiệu cho thấy đà phục hồi của nền kinh tế lớn nhất thế giới trong quý 1/2019. Đồng USD đã lên giá so với giỏ sáu tiền tệ chính trên thị trường, sau khi doanh số bán lẻ tại Mỹ trong tháng Ba ghi nhận mức tăng mạnh nhất trong một năm rưỡi. Sự mạnh lên của đồng bạc xanh khiến vàng trở nên đắt đỏ hơn đối với các nhà đầu tư nắm giữ đồng tiền khác.
Hiện nay, các nhà đầu tư đang hướng sự chú ý vào các cuộc đàm phán giữa Mỹ và Trung Quốc để giải quyết tranh chấp thương mại. Theo Nhật báo Phố Wall, hai nền kinh tế lớn nhất thế giới dự kiến sẽ kết thúc đàm phán vào cuối tháng Năm hoặc đầu tháng Sáu tới.
Về những kim loại quý khác, giá bạc giảm 0,1% xuống 14,99 USD/ounce. Còn giá bạch kim vọt lên 899,89 USD/ounce, mức cao nhất trong khoảng một tuần.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá quặng sắt tại Trung Quốc giảm, do nguồn cung trong ngắn hạn tăng sau khi công ty Vale Brazil cho biết sẽ mở lại hoạt động khai thác quặng sắt.
Giá quặng sắt kỳ hạn tháng 9/2019 trên sàn Đại Liên giảm 0,9% xuống 620 CNY (92,59 USD)/tấn, sau khi giảm 3% trong phiên trước đó. Đồng thời, giá thép cây kỳ hạn trên sàn Thượng Hải giảm 1,9% xuống 3.710 CNY/tấn.
Nguồn cung quặng sắt tăng khi Vale cho biết sẽ nối lại hoạt động khai thác quặng sắt tại mỏ Brucutu, với công suất hàng năm đạt 30 triệu tấn trong vòng 72 giờ. Cùng với đó là xuất khẩu quặng sắt từ Brazil và Australia trong tuần tính đến ngày 14/4/2019 tăng 2,82 triệu tấn tương đương 18% lên 18,86 triệu tấn, công ty tư vấn Mysteel cho biết.
Giá kẽm giảm xuống mức thấp nhất 1 tháng, sau khi dự trữ tại London tăng và số liệu sản xuất tại châu Âu suy yếu. Giá kẽm kỳ hạn trên sàn London giảm 1,9% xuống 2.767 USD/tấn, trong phiên có lúc chạm 2.751 USD/tấn, thấp nhất kể từ giữa tháng 3/2019. Dự trữ kẽm tại London tăng lên mức cao nhất trong gần 2 tháng, tăng 7.225 tấn lên 73.575 tấn.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê bật khỏi mức thấp nhất 13,5 năm. Giá cà phê arabica kỳ hạn tháng 7/2019 tăng 3,25 US cent tương đương 3,6% lên 92,9 US cent/lb. Tuy nhiên, tính chung cả tuần, giá cà phê arabica hầu như không thay đổi. Giá cà phê robusta giao cùng kỳ hạn tăng 4 USD tương đương 0,3% lên 1.416 USD/tấn. Tính chung cả tuần, giá cà phê robusta giảm 0,1%.
Giá đường thô kỳ hạn tháng 5/2019 tăng 0,41 US cent tương đương 3,3% lên 12,76 US cent/lb, trong phiên có lúc đạt mức cao 12,79 US cent/lb. Giá đường trắng kỳ hạn tháng 8/2019 tăng 6,3 USD tương đương 1,9% lên 338,7 USD/tấn.
Giá đậu tương tại Mỹ tăng sau khi giảm xuống mức thấp nhất 5 tháng do lo ngại về nhu cầu xuất khẩu suy yếu và vụ thu hoạch tại Nam Mỹ bội thu. Giá đậu tương kỳ hạn tháng 5/2019 trên sàn Chicago tăng 1-1/2 US cent tương đương 0,2% lên 8,8-1/2 USD/bushel, trong đầu phiên giao dịch chạm mức thấp nhất kể từ ngày 1/11/2018.
Giá ngô cũng tăng. Giá ngô kỳ hạn tháng 7/2019 trên sàn Chicago tăng 1/4 US cent lên 3,67-1/4 USD/bushel.
Trong khi đó, giá lúa mì chạm thấp nhất 1 tháng do triển vọng vụ thu hoạch tại Bắc bán cầu thuận lợi. Giá lúa mì giao cùng kỳ hạn trên sàn Chicago giảm 2 US cent tương đương 0,3% xuống 4,48-1/4 USD/bushel.
Giá dầu cọ tại Malaysia giảm, rời khỏi chuỗi tăng 2 phiên liên tiếp, theo xu hướng giá dầu đậu tương trên sàn Chicago suy giảm và hoạt động bán chốt lời. Tuy nhiên, giá dầu cọ giảm được hạn chế bởi đồng ringgit suy yếu. Giá dầu cọ kỳ hạn tháng 7/2019 trên sàn Bursa Malaysia giảm 0,6% xuống 2.191 ringgit (528,97 USD)/tấn.
Giá cao su tại Tokyo giảm hơn 2% xuống mức thấp nhất 1 tuần, do giá cao su kỳ hạn tại Thượng Hải suy giảm trong bối cảnh lo ngại về các cuộc đàm phán thương mại Mỹ - Trung.
Giá cao su kỳ hạn tháng 9/2019 trên sàn TOCOM giảm 4,4 JPY tương đương 2,3% xuống 187,1 JPY (1,67 USD)/kg, thấp nhất kể từ ngày 10/4/2019. Đồng thời, giá cao su TSR20 kỳ hạn tháng 10/2019 trên sàn TOCOM giảm 2,1% xuống 168,5 JPY/kg.
Giá cao su kỳ hạn tháng 9/2019 trên sàn Thượng Hải giảm 255 CNY xuống 11.400 CNY (1.702 USD)/tấn.
Nhà phân tích hàng hóa Satoru Yoshida thuộc Rakuten Securities cho biết: "Giá cao su trên cả 2 sàn Thượng Hải và Tokyo chịu áp lực giảm do lo ngại về các cuộc đàm phán thương mại Mỹ - Trung vì chưa có kết quả rõ ràng".

Giá hàng hóa thế giới

Mặt hàng

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

64,00

+0,24

+0,38%

Dầu Brent

USD/thùng

71,97

+0,35

+0,49%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

47.380,00

+130,00

+0,28%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,49

-0,03

-1,07%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

207,22

+3,04

+1,49%

Dầu đốt

US cent/gallon

207,09

+0,17

+0,08%

Dầu khí

USD/tấn

635,50

-1,50

-0,24%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

64.750,00

+150,00

+0,23%

Vàng New York

USD/ounce

1.276,00

-0,80

-0,06%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.583,00

+17,00

+0,37%

Bạc New York

USD/ounce

14,96

+0,02

+0,11%

Bạc TOCOM

JPY/g

54,20

+0,10

+0,18%

Bạch kim

USD/ounce

903,04

+0,03

+0,00%

Palađi

USD/ounce

1.425,15

+2,41

+0,17%

Đồng New York

US cent/lb

292,65

-4,70

-1,58%

Đồng LME

USD/tấn

6.476,00

-80,00

-1,22%

Nhôm LME

USD/tấn

1.867,00

+17,00

+0,92%

Kẽm LME

USD/tấn

2.767,00

-52,50

-1,86%

Thiếc LME

USD/tấn

20.265,00

-140,00

-0,69%

Ngô

US cent/bushel

367,25

+0,25

+0,07%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

448,25

-2,00

-0,44%

Lúa mạch

US cent/bushel

292,00

-7,75

-2,59%

Gạo thô

USD/cwt

10,68

-0,05

-0,51%

Đậu tương

US cent/bushel

894,25

+1,75

+0,20%

Khô đậu tương

USD/tấn

306,80

-0,80

-0,26%

Dầu đậu tương

US cent/lb

29,09

+0,31

+1,08%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

457,20

-1,50

-0,33%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.372,00

-31,00

-1,29%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

92,90

+3,25

+3,63%

Đường thô

US cent/lb

12,98

+0,45

+3,59%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

110,15

-1,50

-1,34%

Bông

US cent/lb

78,27

-0,69

-0,87%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

335,70

-3,20

-0,94%

Cao su TOCOM

JPY/kg

187,80

+0,70

+0,37%

Ethanol CME

USD/gallon

1,35

+0,00

+0,07%

Nguồn: Bloomberg, Reuters, CafeF