Năng lượng: Giá dầu giảm
Phiên cuối tuần, giá dầu tăng. Dầu ngọt nhẹ (WTI) giao tháng 11/2018 tăng 47 US cent (0,7%) lên 69,12 USD/thùng; dầu Brent biển Bắc tăng 49 US cent (0,6%) lên 79,78 USD/thùng.
Tuy nhiên, tính chung cả tuần, giá dầu WTI giảm 3,1%, trong khi dầu Brent giảm 0,8%.
Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) cho biết, dự trữ dầu thô của nước này đã tăng thêm 6,5 triệu thùng trong tuần kết thúc ngày 12/10, cao hơn kỳ vọng của thị trường. Các công ty lọc dầu của Mỹ đang bước vào mùa bảo trì và sẽ ngừng hoạt động trong 4-6 tuần cũng là yếu tố gây ảnh hưởng đến nhu cầu và giá dầu trong thời gian này.
Ngoài ra, thị trường năng lượng còn chịu thêm sức ép khi Cơ quan Năng lượng Quốc tế cho biết, thế giới dường như đang có đủ nguồn cung “vàng đen”, đồng thời hạ dự báo tăng trưởng nhu cầu dầu toàn cầu trong năm nay và năm sau.
Cam kết hiện nay của Saudi Arabia về việc gia tăng sản lượng được xem là rất quan trọng đối với những nỗ lực của chính quyền Tông thống Trump để có thể áp các lệnh trừng phạt đối với Iran mà vẫn không làm giá dầu biến động.
Mâu thuẫn giữa Mỹ và Saudi Arabia diễn ra vào thời điểm mang tính quyết định đối với thị trường dầu toàn cầu, khi các lệnh trừng phạt của Mỹ đối với Iran dự kiến sẽ bắt đầu có hiệu lực từ ngày 4/11 tới.
Căng thẳng ngoại giao giữa Mỹ và Saudi Arabia liên quan đến vụ nhà báo Jamal Khashoggi mất tích. Riyadh đang phải chịu áp lực sau khi nhà báo Khashoggi mang quốc tịch Saudi Arabia và sinh sống tại Mỹ, đã mất tích từ ngày 2/10/2018 sau khi vào tòa lãnh sự Saudi Arabia ở Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ, để làm thủ tục kết hôn với một phụ nữ Thổ Nhĩ Kỳ. Tổng thống Donald Trump đã dọa sẽ “trừng phạt nặng” Riyadh nếu điều này là đúng. Đáp lại, theo hãng thông tấn nhà nước SPA, Saudi Arabia cho biết sẽ trả đũa bất cứ hành động nào chống lại nước này liên quan đến vụ việc trên.
Kim loại quý: Giá tăng nhẹ
Phiên cuối tuần, giá vàng giao ngay tăng 0,1% lên 1.225,75 USD/ounce, trái lại vàng kỳ hạn tháng 12/2018 giảm 1 USD (0,1%), xuống 1.229,1 USD/ounce. Tính chung cả tuần, giá vàng tăng 0,7%. Tuy nhiên so với đầu năm 2018 giá vẫn giảm khoảng 7%.
Cũng phiên cuối tuần, giá bạc giao tháng 12/2018 tăng 4 US cent (tương đương 0,3%) lên 14,65 USD/ounce, chấm dứt chuỗi 3 phiên giảm liên tiếp, tính chung cả tuần giá tăng 0,3%.
Phiên này, chỉ số đồng USD, thước đo chính đánh giá diễn biến của đồng bạc xanh so với rổ tiền tệ quốc tế giảm 0,3%, xuống 95,68. Tuy nhiên, chỉ số này đã tăng 0,6% tính từ đầu tháng 10 tới nay và tăng tới 4% tính từ đầu năm, khi Fed kiên định với chính sách thắt chặt tiền tệ.
Carsten Fritsch, chuyên gia phân tích hàng hóa tại Commerzbank, nhận định: “Vàng đang được hỗ trợ bởi tâm lý né tránh rủi ro khi thị trường chứng khoán lao dốc”.
Fed đã nâng lãi suất ba lần trong năm nay và sự đồng thuận được thể hiện tại cuộc họp tháng Chín vừa qua có thể làm tăng kỳ vọng rằng thể chế tài chính này sẽ nâng lãi suất tiếp một lần nữa vào tháng 12 tới. Biên bản cuộc họp tháng Chín của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) cho thấy, các nhà hoạch định chính sách của ngân hàng này đều ủng hộ kế hoạch nâng lãi suất, qua đó khiến giá vàng có phiên đảo chiều.
Kim loại cơ bản: Giá giảm
Phiên cuối tuần, giá nickel phục hồi từ mức thấp nhất 1 tháng, giá đồng cũng tăng sau khi
Chính phủ Trung Quốc cam kết hỗ trợ các công ty có vấn đề về thanh khoản trong bối cảnh tăng của nước này đang chậm lại. Tuy nhiên, tính chung cả tuần hai kim loại này đều giảm do đồng USD mạnh và tác động tiêu cực của xung đột thương mại kéo dài giữa Mỹ và Trung Quốc. Trong phiên này, giá đồng trên sàn London (LME) tăng 1% lên 6.220 USD/tấn, tính chung cả tuần giá giảm 1%; nickel cùng phiên tăng 0,8% lên 12.445 USD/tấn sau khi giảm xuống mức thấp nhất kể từ ngày 18/9 trong ngày 18/10. Dự trữ nickel trên sàn LME giảm 43% kể từ thời điểm này năm ngoái xuống khoảng 220.00 tấn. Dự trữ đồng trong kho của sàn giao dịch kỳ hạn Thượng Hải tăng 12% lên 140.789 tấn.
Giới phân tích nhận định yêu cầu cắt giảm sản lượng trong mùa đông của Đường Sơn - thành phố sản xuất thép hàng đầu Trung Quốc – năm nay có vẻ không khắc nghiệt hơn năm ngoái, và triển vọng sản lượng vẫn cao ngay bất chấp nỗ lực chống ô nhiêm bằng cách giảm khói.
Tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc trong quý 3/2018 chậm lại xuống mức thấp nhất kể từ khủng hoảng tài chính toàn cầu do chiến dịch kéo dài nhiều năm để giải quyết rủi ro nợ và cuộc chiến thương mại với Mỹ bắt đầu ảnh hưởng.
Giá thép Trung Quốc giảm trong phiên cuối tuần sau khi số liệu cho thấy sản lượng hàng ngày tại nhà sản xuất thép hàng đầu thế giới tăng lên kỷ lục trong tháng 9/2018 và kinh tế của Trung Quốc giảm xuống mức thấp nhất kể từ năm 2009. Thép cây kỳ hạn tháng 1/2018 trên sàn giao dịch kỳ hạn Thượng Hải đóng cửa giảm 2,4% xuống 4.055 CNY (585 USD)/tấn. Thép cuộn cán nóng giảm 1,4% xuống 3.860 CNY/tấn.
Sản lượng thép tăng do các nhà máy tận dụng giá cao và trước khi Trung Quốc hạn chế sản lượng trong mùa đông nhằm chống ô nhiễm môi trường. Cụ thể, sản lượng thép thô của Trung Quốc đạt 80,85 triệu tấn trong tháng 9/2018, tăng từ 80,33 triệu tấn trong tháng 8/2018 và từ 71,83 triệu tấn trong tháng 9/2017. Điều này nghĩa là sản lượng trung bình hàng ngày trong tháng 9/2018 ở mức 2,7 triệu tấn, cao kỷ lục theo tính toán của Reuters.
Lợi nhuận trung bình tại các nhà mày thép hiện nay trên 1.00 CNY/tấn. Tác động của việc hạn chế sản lượng từ chính phủ trong mùa đông sẽ là yếu tố chính với sản lượng trong quý 4/2018, mặc dù có thể thoải mái hơn năm ngoái. Trung Quốc cho phép các chính quyền địa phương tự thiết lập mức hạn chế trong mùa đông năm nay.
Cũng gây sức ép lên giá là nền kinh tế của Trung Quốc tăng 6,5% trong quý 3/2018 so với cùng kỳ năm ngoái, thấp hơn dự kiến, đây là mức tăng trưởng yếu nhất kể từ khủng hoảng tài chính toàn cầu trong bối cảnh chiến tranh thương mại với Mỹ.
Nông sản: Đường và cà phê tăng
Phiên cuối tuần, giá cà phê arabica giao tháng 12/2018 vững ở mức 1,221 USD/lb, sau khi có lúc đạt 1,255 USD, cao nhất 8,5 tháng. Tính chung cả tuần, giá tăng trên 4%. Robusta giao tháng 1/2019 giảm 36 USD tương đương 2% trong cùng phiên, xuống 1.739 USD/tấn, tính chung cả tuần giá tăng 0,8%.
Giá cà phê hiện vẫn nhạy cảm với hoạt động mua đầu vơ và biến động tỷ giá ở Brazil – nước sản xuất cà phê lớn nhất thế giới.
Đối với mặt hàng đường, kết thúc phiên cuối tuần, giá đường kỳ hạn tháng 3/2018 tăng 0,02 US cent hay 0,14% lên 13,89 US cent/lb, tăng hơn 6% trong tuần qua.
Thị trường được hỗ trợ trong những tuần gần đây bởi việc đóng các hợp đồng bán kết hợp với đồng real mạnh tại Brazil, nước sản xuất đường hàng đầu thế giới. Tuy nhiên các đại lý cho biết nhà sản xuất lựa chọn bảo hiểm kết hợp với việc mua vào đầu cơ chậm lại do thị trường đã mua quá nhiều về mặt kỹ thuật.
Đường trắng kỳ hạn tháng 12/2018 đóng cửa tăng 40 US cent hay 0,1% lên 379 USD/tấn. Tính chung cả tuần giá tăng hơn 4%.
Giá cao su kỳ hạn tại Tokyo phiên cuối tuần cũng tăng do giá dầu mạnh, mặc dù thị trường cao su tại Thượng Hải giảm. Cao su kỳ hạn trên sàn giao dịch hàng hóa Tokyo (TOCOM) vẫn bị áp lực từ dự trữ cao và nhu cầu yếu. Hợp đồng cao su TOCOM kỳ hạn tháng 3/2019 đóng cửa tăng 1 JPY (0,0089 USD) lên 166,8 JPY/kg. Trong tuần này, cao su tại Tokyo giảm 1,9 JPY. Hợp đồng cao su TSR 20 kỳ hạn tháng 4/2019 tăng 0,5 JPY đóng cửa tại 149,7 JPY/kg.
Hợp đồng cao su giao tháng 1/2019 trên sàn giao dịch kỳ hạn Thượng Hải kết thúc phiên giảm 75 CNY (10,82 USD) xuống 12.015 CNY/tấn.
Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá 13/10

Giá 20/10

20/10 so với 21/10

20/10 so với 21/10 (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

71,34

69,12

+0,47

+0,68%

Dầu Brent

USD/thùng

80,43

79,78

+0,49

+0,62%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

53.740,00

53.580,00

+190,00

+0,36%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

3,16

3,25

+0,05

+1,63%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

194,20

191,39

+2,28

+1,21%

Dầu đốt

US cent/gallon

232,13

230,20

+0,71

+0,31%

Dầu khí

USD/tấn

718,00

710,00

+0,75

+0,11%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

70.490,00

69.910,00

+270,00

+0,39%

Vàng New York

USD/ounce

1.222,00

1.228,70

-1,40

-0,11%

Vàng Tokyo

JPY/g

4.379,00

4.425,00

-5,00

-0,11%

Bạc New York

USD/ounce

14,64

14,65

+0,05

+0,31%

Bạc TOCOM

JPY/g

52,70

52,80

-0,10

-0,19%

Bạch kim

USD/ounce

838,25

830,94

+3,14

+0,38%

Palladium

USD/ounce

1.067,74

1.082,93

+9,85

+0,92%

Đồng New York

US cent/lb

280,05

277,80

+3,15

+1,15%

Đồng LME

USD/tấn

6.302,00

6.220,00

+63,00

+1,02%

Nhôm LME

USD/tấn

2.041,00

2.003,00

-10,00

-0,50%

Kẽm LME

USD/tấn

2.646,00

2.626,00

-57,50

-2,14%

Thiếc LME

USD/tấn

19.125,00

19.170,00

+145,00

+0,76%

Ngô

US cent/bushel

373,75

367,00

-3,75

-1,01%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

517,25

514,75

+1,75

+0,34%

Lúa mạch

US cent/bushel

288,00

295,25

0,00

0,00%

Gạo thô

USD/cwt

10,69

11,23

+0,06

+0,54%

Đậu tương

US cent/bushel

867,50

856,75

-6,75

-0,78%

Khô đậu tương

USD/tấn

316,90

313,10

-3,20

-1,01%

Dầu đậu tương

US cent/lb

29,39

29,14

+0,12

+0,41%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

501,70

502,50

+4,80

+0,96%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.160,00

2.162,00

+17,00

+0,79%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

116,55

122,10

+0,05

+0,04%

Đường thô

US cent/lb

13,07

13,89

+0,02

+0,14%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

143,55

139,80

-2,25

-1,58%

Bông

US cent/lb

78,37

77,92

-0,13

-0,17%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

320,10

328,50

+2,60

+0,80%

Cao su TOCOM

JPY/kg

169,40

166,50

-0,30

-0,18%

Ethanol CME

USD/gallon

1,31

1,28

0,00

-0,23%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg