Năng lượng: Giá dầu giảm khoảng 1%
Phiên cuối tuần, giá dầu thô ngọt nhẹ (WTI) giao tháng 1/2018 trên sàn New York tăng 96 US cent (1,7%) lên 58,36 USD/thùng, cao nhất trong vòng một tuần qua; dầu Brent giao tháng 2/2018 trên sàn London cũng tăng 1,1 USD (1,8%), lên 63,73 USD/thùng. Lý do bởi Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) cùng một số nước sản xuất dầu khác nhất trí gia hạn thoả thuận cắt giảm sản lượng đến cuối năm 2018. Quyết định này không nằm ngoài tiên lượng của giới phân tích, cho dù trước cuộc họp Nga bày tỏ quan ngại về việc kéo dài thoả thuận cắt giảm sản lượng khai thác dầu mỏ.
Tuy nhiên, tính chung cả tuần, giá cả 2 loại dầu giảm khoảng 1% - giảm mạnh nhất kể từ tuần đầu tiên của tháng 10/2017.
Sự phát triển nhanh chóng của ngành khai thác dầu đá phiến Mỹ là một trong những nguyên nhân chủ chốt châm ngòi cho "vàng đen" rớt giá. Bên cạnh đó, việc đồng USD mạnh lên khiến dầu mỏ - vốn được giao dịch bằng đồng tiền xanh - trở nên kém hấp dẫn đối với các nhà đầu tư đang nắm giữ các đồng tiền khác.
Một trong những lo ngại lớn nhất của OPEC là sản lượng dầu mỏ của Mỹ tăng. Theo số liệu của Chính phủ Mỹ, sản lượng dầu trong nước đạt kỷ lục mới là 9,68 triệu thùng/ngày vào tuần trước. Hãng tư vấn Rystad Energy nhận định sản lượng dầu của Mỹ sẽ đạt 9,9 triệu thùng/ngày trong tháng 12 tới, gần bằng mức của các nước sản xuất hàng đầu là Nga và Saudi Arabia.
Báo cáo mới nhất của công ty dịch vụ dầu khí Baker Hughes cho hay, số giàn khoan dầu đang hoạt động tại nước này trong tuần qua đã tăng thêm 2 chiếc, lên 749 giàn.

Tuy nhiên, kể từ sau khi giá dầu rớt xuống dưới ngưỡng 30 USD/thùng hồi đầu năm 2016, ngành dầu mỏ thế giới đã dần phục hồi, trong bối cảnh giá dầu ổn định trở lại.

Kim loại quý: Giá vàng giảm gần 1%
Phiên giao dịch cuối tuần, giá vàng giao ngay kết thúc tăng 0,3%, lên 1.278,01 USD/ounce, sau khi có lúc chạm mức 1.289,50 USD/ounce, tuy nhiên tính chung cả tuần, giá vàng giao ngay vẫn mất 0,8%; vàng giao tháng 2/2018 cũng tiến 5,6 USD (0,4%) phiên cuối tuần, đứng ở mức 1.282,3 USD/ounce.
Cùng phiên, giá bạc giảm 0,6%, xuống 16,33 USD/ounce, sau khi chạm mức thấp nhất kể từ ngày 8/8 là 16,22 USD/ounce; giá kim loại quý này mất 3,8% trong cả tuần qua.
Ông Jerome Powell, người được đề cử giữ chức Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) thay bà Janet Yellen vào nhiệm kỳ tới, tại cuộc điều trần trước Quốc hội Mỹ cho biết Fed có thể sẽ nâng lãi suất vào tháng 12/2017. Giá vàng luôn nhạy cảm với các động thái điều chỉnh lãi suất của Mỹ, bởi lãi suất tăng sẽ giúp đồng USD mạnh lên song lại khiến sức hấp dẫn của các tài sản không sinh lời như vàng giảm đáng kể.
Ngoài ra, số liệu lạc quan về GDP của Mỹ, cùng với những tín hiệu về sự tiến triển trong kế hoạch cải cách thuế của nước này và tiến trình đàm phán về việc nước Anh rời khỏi Liên minh châu Âu (EU) đã giúp các thị trường chứng khoán tăng điểm lên những mức cao mới, qua đó tạo sức ép giảm đối với giá vàng.
Kim loại cơ bản: Giá chì, kẽm cao nhất nhiều tuần
Phiên giao dịch cuối tuần, giá chì và kẽm đạt mức cao kỷ lục do lo ngại về việc Trung Quốc thực hiện các biện pháp kiểm soát nghiêm ngặt để chống ô nhiễm trong bối cảnh nhu cầu chì sử dụng trong ắc quy gia tăng do mùa vụ.
Hầu hết các kim loại công nghiệp khác cũng tăng giá do số liệu sản xuất tăng mạnh ở nhiều nơi thuộc châu Á và châu Âu và đồng USD yếu đi.
Sản lượng chì và kẽm dự kiến sẽ bị giảm sút do Trung Quốc kiểm soát sản xuất để chống khói bụi.
Giá chì phiên cuối tuần tăng 3% lên mức cao nhất kể từ 10/11, giá kẽm cũng tăng 3% lên mức cao nhất kể từ 1/11.
Nông sản: Giá cà phê và ngũ cốc tăng
Phiên cuối tuần, giá đường thô giao tháng 3 giảm 0,1 US cent tương đương 0,66% xuống 14,98 US cent/lb, đường trắng giao cùng kỳ hạn giảm 1,5 USD tương đương 0,38% xuống 388,9 USD/tấn.
Cà phê arabica giao tháng 3 tăng 1,05 US cent tương đương 0,82% lên 1,2955 USD/lb, trong phiên có lúc giá đạt 1,3030 USD, sau khi giảm gần 3% trong phiên trước đó do đồng real Brazil giảm giá. Robusta giao cùng kỳ hạn tăng 27 USD tương đương 1,56% lên 1.735 USD/tấn.
Hai sàn kỳ hạn cà phê robusta và arabica sau một tuần thực hiện tính đến ngày 1/12/2017 có kết quả tăng so với một tuần trước đó. Cả tuần, sàn robusta tăng 4 USD chốt 1753 USD/tấn và arabica tăng 2 US cent đạt 129.55 US cent/lb.
Với ngũ cốc, giá hầu hết tăng trong phiên cuối tuần do sức mua tăng.
Giá ngô giao tháng 3/2018 tăng 3 US cent (tương đương 0,84%) lên 3,5875 USD/bushel. Trong khi đó, giá lúa mỳ giao tháng 3/2018 tăng 5,5 US cent (1,27%) lên 4,385 USD/bushel. Còn giá đậu tương giao tháng 1/2018 tăng 8,5 US cent (0,86%) lên 9,9425 USD/bushel.
Lo ngại ngày một tăng về tình trạng thời tiết khô, nóng quá mức ở Argentina, có thể tác động tiêu cực tới sản lượng ngô và đậu tương của nước này, làm tăng sức mua đối với các loại nông sản này.
Theo dự báo, thời tiết ở Argentina và khu vực phía Nam Brazil sẽ tiếp tục khô hơn với nhiệt độ gia tăng.
Trong một báo cáo công bố sau khi thị trường đóng cửa, Bộ Nông nghiệp Mỹ cho hay các nhà máy chế biến đậu tương đã tiêu thụ 176 triệu bushel hạt có dầu trong tháng 10/2017, tăng từ mức 145 triệu bushel trong tháng 9/2017 và xấp xỉ mức tương ứng của cùng kỳ năm 2016. Theo các thương nhân, điều này đã hỗ trợ giá đậu tương kỳ hạn.

Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

25/11

2/12

2/12 so với 1/12

2/12 so với 1/12 (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

58,95

58,36

+0,96

+1,67%

Dầu Brent

USD/thùng

63,86

63,73

+1,10

+1,76%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

42.230,00

41.900,00

+300,00

+0,72%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,81

3,06

+0,04

+1,19%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

178,80

174,16

+1,16

+0,67%

Dầu đốt

US cent/gallon

195,29

194,13

+4,37

+2,30%

Dầu khí

USD/tấn

564,75

569,00

+11,00

+1,97%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

57.470,00

57.310,00

+260,00

+0,46%

Vàng New York

USD/ounce

1.291,80

1.282,30

+5,60

+0,44%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.603,00

4.608,00

+6,00

+0,13%

Bạc New York

USD/ounce

17,09

16,39

-0,09

-0,52%

Bạc TOCOM

JPY/g

61,00

60,00

+0,40

+0,67%

Bạch kim giao ngay

USD/t oz.

942,04

940,00

-2,95

-0,31%

Palladium giao ngay

USD/t oz.

999,28

1.021,34

+10,86

+1,07%

Đồng New York

US cent/lb

319,15

309,25

+2,85

+0,93%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

7.002,00

6.833,00

+71,00

+1,05%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

2.132,00

2.074,50

+26,50

+1,29%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

3.235,50

3.249,00

+93,00

+2,95%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

19.510,00

19.455,00

-165,00

-0,84%

Ngô

US cent/bushel

355,00

358,75

+3,00

+0,84%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

434,75

438,50

+5,50

+1,27%

Lúa mạch

US cent/bushel

266,75

263,25

0,00

0,00%

Gạo thô

USD/cwt

12,42

12,46

-0,07

-0,56%

Đậu tương

US cent/bushel

993,25

994,25

+8,50

+0,86%

Khô đậu tương

USD/tấn

325,90

330,20

+3,70

+1,13%

Dầu đậu tương

US cent/lb

34,08

33,69

-0,16

-0,47%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

511,00

506,10

-3,50

-0,69%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.107,00

2.041,00

-8,00

-0,39%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

127,55

129,55

+1,05

+0,82%

Đường thô

US cent/lb

15,45

14,98

-0,10

-0,66%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

165,90

162,70

+2,60

+1,62%

Bông

US cent/lb

71,93

73,28

+0,47

+0,65%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

420,70

435,40

+7,70

+1,80%

Cao su TOCOM

JPY/kg

195,60

202,00

-1,50

-0,74%

Ethanol CME

USD/gallon

1,38

1,36

+0,00

+0,15%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg