Năng lượng: Giá dầu thô tăng lên mức cao nhất kể từ 2015
Kết thúc phiên giao dịch cuối tuần, giá dầu Brent tăng 35 US cent lên 65,25 USD/thùng, cao nhất kể từ tháng 6/2015; dầu ngọt nhẹ (WTI tăng) 11 US cent lên 58,47 USD/thùng, cao nhất kể từ giữa năm 2015 trước cam kết hỗ trợ giá “vàng đen” của các nhà sản xuất dầu mỏ.
Cả 2 hợp đồng đều chốt sớm trước 1 giờ so với bình thường để bước vào kỳ nghỉ Giáng sinh và Năm mới.
Bộ trưởng Bộ Năng lượng Nga, Alexander Novak, cho biết Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) và Nga có thể kéo dài thỏa thuận cắt giảm sản lượng, để tránh tình trạng dư thừa nguồn cung. Bộ trưởng Dầu mỏ Kuwait, Bakhit al-Rashidi cho biết, mức độ tuân thủ thỏa thuận cắt giảm sản lượng hiện đạt 122%, mức cao nhất kể từ khi thỏa thuận này đi vào thực thi.
Tuần qua, thông tin đường ống dẫn dầu biển Bắc tạm ngừng hoạt động để khắc phục sự cố rò rỉ và cuộc đình công trong ngành năng lượng ở Nigeria đã chi phối thị trường năng lượng thế giới, bất chấp lo ngại về xu hướng tăng sản lượng khai thác của Mỹ.
Báo cáo của Cơ quan Thông tin Năng lượng (EIA) Mỹ cho hay dự trữ dầu thô của nền kinh tế lớn nhất thế giới trong tuần kết thúc vào ngày 15/12 đã giảm 6,5 triệu thùng, vượt mức giảm dự báo của giới phân tích.
Hiện lượng dự trữ dầu thô của Mỹ, không tính kho dự trữ dầu chiến lược, ở mức 436,5 triệu thùng, mức thấp nhất kể từ tháng 10/2015.
Sự sụt giảm kho dầu dự trữ là do Mỹ đang đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu và nỗ lực kiềm chế nguồn cung của một số nhà sản xuất dầu mỏ chủ chốt.
Sản lượng khai thác dầu mỏ của Mỹ đã tăng 16% kể từ giữa năm 2016, đạt 9,8 triệu thùng/ngày, gần với mức của các nước sản xuất dầu mỏ hàng đầu như Saudi Arabia với 10 triệu thùng/ngày và Nga (11 triệu thùng/ngày). Điều này đang làm suy yếu các nỗ lực tái cân bằng thị trường của OPEC và các nước sản xuất dầu mỏ khác.
OPEC và 10 nhà sản xuất dầu mỏ khác không thuộc tổ chức này hồi tháng trước đã nhất trí gia hạn thỏa thuận cắt giảm sản lượng tới hết năm 2018.
Kim loại quý: Giá vàng tăng
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng giao ngay tăng 0,55% lên 1.273,61 USD/ounce, sau khi có thời điểm vọt lên 1.275,98 USD/ounce, mức cao nhất kể từ ngày 5/12. Trong khi đó, giá vàng giao sau tăng 0,7% lên 1.278,80 USD/ounce.
Tính chung cả tuần, giá vàng tăng khá mạnh do đồng USD yếu đi và hoạt động mua vào của giới đầu tư.
Số liệu thống kê của Mỹ cho thấy chi tiêu vượt thu nhập trong tháng Mười Một ảnh hưởng tiêu cực đến triển vọng tăng trưởng của kinh tế nước này. Bên cạnh đó, giá vàng còn được hưởng lợi bởi mối lo về lạm phát.
Theo báo cáo mới công bố của Hội đồng Vàng Thế giới (WGC), giá kim loại quý này có nhiều lý do để củng cố đà tăng trong năm 2018.
Các chuyên gia cho rằng với vai trò là nơi trú ẩn an toàn, giá vàng được hưởng lợi từ tình hình bất ổn chính trị tại bán đảo Triều Tiên, khu vực Trung Đông và sự thiếu chắc chắn xung quanh tiến trình rời Liên minh châu Âu (EU) của nước Anh, cũng như các cuộc tấn công khủng bố nhằm vào các thành phố lớn của châu Âu.
Trong khi đó, báo cáo mới đây của ngân hàng Goldman Sachs dự báo giá vàng sẽ giảm sâu hơn và chạm mức 1.200 USD/ounce vào giữa năm 2018.
Nông sản: Giá tăng trong tuần
Phiên giao dịch cuối tuần, giá đường thô giao tháng 3 giảm 0,17 US cent tương đương 1,2% xuống 14,6 US cent/lb; hợp đồng đường thô giao ngay tính chung cả tuần tăng 6,9%, mức tăng mạnh nhất trong vòng 1 năm. Trong tuần có lúc giá đạt mức cao nhất 2 tuần.
Đường trắng giao tháng 3 giá giảm 1,4 USD tương đương 0,4% xuống 385,50 USD/tấn.
Cà phê arabica cũng giảm 1,85 US cent tương đương 1,5% trong phiên cuối tuần, xuống 1,204 USD/lb. Hợp đòng giao ngay tăng 3% trong tuần, mức tăng mạnh nhất kể từ tháng 9. Robusta tăng 7 USD cùng phiên tương đương 0,4% lên 1,712 USD/tấn.
Cả 3 thị trường cacao, cà phê robusta và đường đều tạm ngừng giao dịch tới 27/12.
Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

16/12

23/12

23/12 so với 22/12

23/12 so với 22/12 (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

57.30

58,47

+0,11

+0,19%

Dầu Brent

USD/thùng

63.23

65,25

+0,35

+0,54%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

41,580.00

43.090,00

+110,00

+0,26%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2.61

2,67

+0,07

+2,66%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

165.48

176,23

+1,47

+0,84%

Dầu đốt

US cent/gallon

190.35

196,94

+1,92

+0,98%

Dầu khí

USD/tấn

564.00

575,50

-0,75

-0,13%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

56,600.00

58.000,00

+70,00

+0,12%

Vàng New York

USD/ounce

1,257.50

1.278,80

+8,20

+0,65%

Vàng TOCOM

JPY/g

4,540.00

4.632,00

+23,00

+0,50%

Bạc New York

USD/ounce

16.06

16,44

+0,21

+1,26%

Bạc TOCOM

JPY/g

58.10

60,10

+0,70

+1,18%

Bạch kim giao ngay

USD/t oz,

893.65

917,04

+0,71

+0,08%

Palladium giao ngay

USD/t oz,

1,024.72

1.040,77

+1,25

+0,12%

Đồng New York

US cent/lb

313.45

323,85

+1,90

+0,59%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

6,886.00

7.125,00

+39,00

+0,55%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

2,066.00

2.192,00

+44,00

+2,05%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

3,205.00

3.265,50

+23,50

+0,72%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

19,150.00

19.530,00

+180,00

+0,93%

Ngô

US cent/bushel

347.50

352,00

+0,75

+0,21%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

418.25

424,75

-2,25

-0,53%

Lúa mạch

US cent/bushel

254.25

242,50

-1,50

-0,61%

Gạo thô

USD/cwt

11.71

12,23

-0,05

-0,41%

Đậu tương

US cent/bushel

978.00

960,25

+1,25

+0,13%

Khô đậu tương

USD/tấn

324.50

316,70

-1,40

-0,44%

Dầu đậu tương

US cent/lb

33.34

32,94

+0,11

+0,34%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

502.70

497,80

0,00

0,00%

Cacao Mỹ

USD/tấn

1,877.00

1.809,00

-98,00

-5,14%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

120.75

120,40

-1,85

-1,51%

Đường thô

US cent/lb

13.66

14,60

-0,17

-1,15%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

144.50

135,90

-0,55

-0,40%

Bông

US cent/lb

75.92

77,87

-0,07

-0,09%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

431.90

442,80

+6,90

+1,58%

Cao su TOCOM

JPY/kg

206.60

204,60

+1,20

+0,59%

Ethanol CME

USD/gallon

1.26

1,33

+0,01

+0,68%

Nguồn: VITIC/Reuters. Bloomberg