Giá dầu giảm 2,5% do lo ngại tiêu thụ yếu
Bất chấp ba phiên lên giá vào giữa tuần, thị trường dầu mỏ thế giới vẫn chứng kiến một tuần ảm đạm, giữa bối cảnh những lo ngại về tăng trưởng nhu cầu dầu mỏ “phủ mây đen” lên nỗ lực cắt giảm sản lượng của các nhà sản xuất.
Tính chung cả tuần, giá dầu Brent giảm 3,3%, còn giá dầu chuẩn Tây Texas (WTI) giảm 2,7%. Phiên cuối tuần, dầu WTI giảm 1,42 USD (2,5%) xuống 55,80 USD/thùng. trong khi đó dầu Brent giảm 1,24 USD (1,9%) xuống 65,07 USD/thùng do những lo ngại về tăng trưởng nhu cầu tiêu thụ dầu mỏ theo sau số liệu yếu kém về hoạt động chế tạo tại Mỹ.
Theo các chuyên gia, số liệu kinh tế bi quan làm dấy lên lo ngại nhu cầu tiêu thụ “vàng đen” trên toàn cầu sẽ sụt giảm. Thống kê cho thấy chỉ số hoạt động chế tạo ISM tại Mỹ trong tháng Hai đã giảm xuống mức thấp nhất kể từ tháng 11/2016. John Kilduff, đối tác tại Again Capital LLC (New York, Mỹ) cho rằng sự giảm tốc của nền kinh tế là thông tin tiêu cực đối với giá dầu.
Tổng thống Mỹ Donald Trump mới đây đã kêu gọi Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) giảm bớt nỗ lực đẩy giá “vàng đen” đi lên. Ông Trump cho rằng giá dầu đang tăng quá cao, ông kêu gọi OPEC "điều tiết" nỗ lực thúc đẩy giá dầu.
Theo kết quả khảo sát do hãng Reuters, các nhà kinh tế tỏ ra bi quan về triển vọng của giá dầu trong năm nay, đồng thời dự báo tiêu thụ nhiên liệu trên toàn cầu sẽ giảm do kinh tế tăng trưởng chậm lại.
Các chuyên gia từ Goldman Sachs dự đoán triển vọng ngắn hạn đối với giá dầu mạnh trong từ hai đến ba tháng tới song đến cuối năm, triển vọng sẽ kém sáng hơn do xuất khẩu của Mỹ tăng và bất ổn kinh tế, chính trị, địa chính trị leo thang.
Tính từ đầu năm, giá dầu đã tăng khoảng 20% khi OPEC và các nước ngoài khối, trong đó có Nga, cắt giảm sản lượng khai thác dầu nhằm làm giảm tình trạng dôi dư nguồn cung. Saudi Arabia mới đây ước tính sản lượng khai thác dầu của nước này sẽ giảm mạnh hơn dự đoán xuống 9,8 triệu thùng dầu/ngày trong tháng 3/2019. Các biện pháp trừng phạt Mỹ áp đặt đối với xuất khẩu dầu của Iran và Venezuela cũng đã hỗ trợ thị trường “vàng đen”. 
Trong khi đó, giá khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG) tại châu Á giảm xuống mức thấp nhất gần 19 tháng do nhu cầu mua thấp và nguồn cung dồi dào. Giá LNG giao tháng 4 sang Đông Bắc Á hiện ở mức khoảng 6 USD/mmBtu, giảm 20 Uscent so với tuần trước, chạm mức thấp nhất kể từ 4/8/2017 thời điểm giá đạt 5,90 USD/mmBtu.
Nhu cầu mua giao ngay từ Trung Quốc, nước nhập khẩu LNG lớn thứ hai thế giới, vẫn chậm, nhưng vẫn có một số đơn hàng giao tháng 4/2019. Tổng lượng giao hàng LNG vào Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc và Đài Loan đạt khoảng 15,94 triệu tấn trong tháng 2/2019, giảm gần 19% so với tháng trước. Nga đã giao một lượng LNG kỷ lục vào châu Âu trong tháng 2, lần đầu tiên trở thành nhà cung cấp nhiên liệu ướp lạnh lớn nhất cho lục địa này.
Kim loại quý: Giá vàng giảm mạnh nhất hơn một năm rưỡi
Phiên cuối tuần qua, giá vàng giảm hơn 1% xuống mức thấp nhất kể từ tháng 1/2019 trước sự tăng giá của đồng USD. Phiên này, giá vàng giao ngay đã lần đầu tiên kể từ ngày 28/1 rơi xuống dưới 1.300 USD/ounce, trong khi đó, giá vàng giao sau giảm 1,3% xuống 1.299,2 USD/ounce. Tính chung cả tuần, giá vàng giao ngay ước giảm khoảng 2,6%, mức giảm hàng tuần mạnh nhất trong hơn một năm rưỡi.
Các chuyên gia nhận định số liệu kinh tế tăng trưởng cao hơn dự kiến đã thúc đẩy đồng bạch xanh và lãi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ tăng cao hơn, qua đó làm giảm sức hấp dẫn của vàng.
Biến động của đồng USD đã chi phối thị trường vàng thế giới tuần qua. Chiến lược gia kỳ cựu về hàng hóa Phil Streible tại RJO Futures tại Chicago (Mỹ) nhận định hiện giá vàng đang bị chi phối nhiều hơn bởi dữ liệu, cụ thể là số liệu kinh tế Mỹ. Theo The Hill, kinh tế Mỹ đạt tốc độ tăng trưởng 2,6% trong quý IV/2018 và tăng trưởng 2,9% trong cả năm 2018. Số liệu kinh tế Mỹ khả quan đã đẩy đồng USD đi lên, qua đó kéo lùi giá vàng.
Trong khi đó, đại diện Thương mại Mỹ Robert Lighthizer cho biết những vấn đề giữa Mỹ và Trung Quốc “quá nghiêm trọng” để có thể giải quyết bằng lời hứa mua thêm hàng hóa từ phía Trung Quốc. Theo ông Lighthizer, vẫn cần nhiều nỗ lực trước khi đạt được một thỏa thuận thương mại với Trung Quốc, bất chấp hai bên đã đạt được "tiến triển thực sự”.
Kim loại công nghiệp: Giá sắt, thép đều giảm trong tuần dù tăng ở phiên cuối
Phiên cuối tuần, giá quặng sắt kỳ hạn tại Trung Quốc đã tăng gần 4% theo xu hướng giá thép, do nhu cầu tiêu thụ thép mạnh từ các nhà máy chế tạo và các dự án xây dựng. Giá quặng sắt kỳ hạn chốt phiên tăng hơn 3,7% lên 625,5 CNY/tấn. Tuy nhiên, tính chung cả tuần giá giảm gần 3%. Giá thép xây dựng chốt phiên tại Thượng Hải tăng 2,2% lên 3,815 CNY(569,28 USD)/tấn. Giá thép cuộn cán nóng tăng 2,1% lên 3,825 CNY/tấn. Tính chung cả tuần giá giảm gần 1%.
Tồn kho thép tại các thương nhân Trung Quốc đã tăng thêm 695.600 tấn trong tuần này đạt 18,67 triệu tấn, cho thấy các thương nhân đang tích cực mua sản phẩm từ các nhà máy để đáp ứng nhu cầu cao từ người tiêu dùng.Dự trữ thép cây đã tăng 6,8% lên 10,19 triệu tấn trong tuần này, trong khi dự trữ thép cuộn cán nóng tăng 0,3% lên 2,75 triệu tấn.
Các nhà máy thép trong thành phố sẽ phải giảm 40-70% sản lượng hoặc thậm chí ngừng sản xuất trong thời gian từ 1/3 đến 6/3.
Nông sản: Giá đường giảm, cà phê tăng
Phiên giao dịch cuối tuần, giá đường giảm do thời tiết thuận lợi tại Brazil dấy lên hy vọng nguồn cung dồi dào và đồng real yếu. Giá đường thô chốt phiên giảm 0,16 cent, tương đương 1,3%, xuống mức 12,62 cent/lb.Tính chung cả tuần, giá giảm 5,1%, mức giảm hàng tuần lớn nhất kể từ tháng 11/2018. Giá đường trắng giảm 3,60 USD, tương đương 1%, xuống mức 344,40 USD/tấn.
Thị trường hiện chú ý tới thông tin về hơn một triệu tấn đường thô sẽ được giao trong hợp đồng tháng 3, cao hơn nhiều so với dự kiến của nhiều thương gia. Điều này chứng tỏ nguồn cung đường hiện đang lớn hơn họ nghĩ.
Giá cà phê arabica chốt phiên tăng 1,75%, tương đương 1,8%, đạt mức 1,002 USD/lb, do hoạt động mua bù thiếu. Giá cà phê Rubusta giao tháng 5 giảm 3 USD, tương đương 0,2%, xuống mức 1.534 USD/tấn. Xuất khẩu cà phê toàn cầu đạt 11,06 triệu bao(60 kg) trong tháng 1, tăng 2,6% so với cùng kỳ năm ngoái, theo Tổ chức Cà phê Quốc tế.
Thông tin về bệnh gỉ sắt cà phê ở Brazil và tình trạng cây cà phê ra hoa sớm do điều kiện khô ráo trong tháng 12 và tháng 1 đang hỗ trợ giá. Tính chung cả tuần, giá tăng 0,2%, sau bốn tuần sụt giảm.
Giá cao su kỳ hạn tại Tokyo đã tăng theo xu hướng giá ở Thượng Hải. Tại Tokyo, giá cao su giao tháng 8/2019 tăng 3,2 JPY(0,0286 USD) đạt 204 JPY/kg. Giá cao su TSR 20 giao tháng 9 đóng cửa ở mức 172,4 JPY/kg, tăng 0,4 JPY so với giá mở cửa.
Tại Thương Hải, giá cao su giao tháng 5/2019 đã tăng 265 CNY(39,52 USD) đạt 12.770 CNY/tấn. Tại Singapore, giá cao su giao tháng 4/2019 đạt 148,8 US cent/kg, tăng 1,1%.

Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá 23/22

Giá 2/3

2/3 so với 1/3

2/3 so với 1/3 (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

57,26

55,80

-1,42

-2,48%

Dầu Brent

USD/thùng

67,12

65,07

-1,24

-1,87%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

45.240,00

44.210,00

-1.080,00

-2,38%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,72

2,86

+0,05

+1,67%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

161,12

173,03

-2,20

-1,26%

Dầu đốt

US cent/gallon

203,11

200,10

-2,63

-1,30%

Dầu khí

USD/tấn

620,00

610,50

-10,25

-1,65%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

61.040,00

60.640,00

-1.090,00

-1,77%

Vàng New York

USD/ounce

1.332,80

1.299,20

-16,90

-1,28%

Vàng Tokyo

JPY/g

4.713,00

4.644,00

-52,00

-1,11%

Bạc New York

USD/ounce

16,01

15,26

-0,38

-2,42%

Bạc TOCOM

JPY/g

56,60

55,60

-0,50

-0,89%

Bạch kim

USD/ounce

842,86

859,21

-11,64

-1,34%

Palladium

USD/ounce

1.499,76

1.543,64

-2,74

-0,18%

Đồng New York

US cent/lb

294,80

293,20

-1,60

-0,54%

Đồng LME

USD/tấn

6.478,00

6.478,00

-31,00

-0,48%

Nhôm LME

USD/tấn

1.913,00

1.918,00

+7,00

+0,37%

Kẽm LME

USD/tấn

2.724,00

2.785,00

+7,00

+0,25%

Thiếc LME

USD/tấn

21.495,00

21.620,00

-30,00

-0,14%

Ngô

US cent/bushel

384,50

373,00

+2,25

+0,61%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

491,75

457,25

-2,25

-0,49%

Lúa mạch

US cent/bushel

274,25

264,25

+0,25

+0,09%

Gạo thô

USD/cwt

10,40

10,53

-0,10

-0,94%

Đậu tương

US cent/bushel

923,75

911,50

+1,25

+0,14%

Khô đậu tương

USD/tấn

309,40

307,40

+1,40

+0,46%

Dầu đậu tương

US cent/lb

30,85

30,24

-0,01

-0,03%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

481,40

461,30

-7,90

-1,68%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.288,00

2.217,00

-30,00

-1,34%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

100,00

100,20

+1,75

+1,78%

Đường thô

US cent/lb

13,30

12,62

-0,16

-1,25%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

121,85

116,05

-1,25

-1,07%

Bông

US cent/lb

73,01

73,85

+1,03

+1,41%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

393,50

382,40

-9,00

-2,30%

Cao su TOCOM

JPY/kg

198,90

206,00

+2,00

+0,98%

Ethanol CME

USD/gallon

1,37

1,35

+0,00

+0,30%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg