Năng lượng: Giá dầu tăng, đạt mức cao nhất trong năm
Thị trường dầu mỏ thế giới biến động khá thất thường trong tuần qua, khi những nỗ lực cắt giảm sản lượng của Tổ chức Các nước xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) và các tín hiệu lạc quan trong đàm phán thương mại Mỹ-Trung vẫn vấp phải rào cản từ nguồn cung dồi dào từ Mỹ.
Phiên cuối tuần qua, giá dầu thô tiếp tục tăng trong bối cảnh thị trường chứng khoán toàn cầu khởi sắc bởi kỳ vọng các cuộc đàm phán thương mại Mỹ-Trung sẽ diễn biến tích cực.
Trên sàn New York, dầu ngọt nhẹ giao tháng 4/2019 tăng 30 US cent (tương đương 0,5%) lên 57,26 USD/thùng, đạt mức đóng cửa cao nhất kể từ ngày 12/11/2018; dầu Bent giao cùng kỳ hạn trên sàn London cũng tăng nhẹ 5 US cent (tương đương 0,1%) lên 67,12 USD/thùng, cũng đánh dấu mức đóng cửa cao nhất kể từ ngày 12/11/2018. Tính chung cả tuần qua, giá dầu WTI tăng gần 3%, còn giá dầu Brent tăng 1,3%, ghi nhận tuần tăng thứ hai liên tiếp.
Các đại diện thương mại Mỹ và Trung Quốc đã có cuộc họp kéo dài trong hơn 9 giờ vào ngày 21/2/2019. Ông Trump đã gặp gỡ nhà đàm phàn thương mại hàng đầu của Trung Quốc, Phó Thủ tướng Lưu Hạc, vào ngày 22/2/2019. Mặc dù hai bên bày tỏ sự hài lòng về những tiến triển của cuộc đàm phán và để ngỏ khả năng gia hạn thỏa thuận ngừng chiến, song quan điểm khác biệt sâu sắc liên quan đến một số vấn đề cơ bản vẫn còn tồn tại, theo đó, các quan chức Mỹ đang thúc ép Trung Quốc ngừng lại những hành động mà Washington gọi là chuyển giao công nghệ bất hợp pháp và bảo hộ bất hợp lý cho các doanh nghiệp nhà nước.
Theo báo cáo mới nhất từ cơ quan thông tin năng lượng thuộc Bộ Năng lượng Mỹ, dự trữ dầu thô của Mỹ trong tuần kết thúc ngày 15/2 đã tăng 3,7 triệu thùng, lên 454,5 triệu thùng, mức cao nhất kể từ tháng 10/2017, bất chấp xuất khẩu dầu thô của nước này tăng 1,2 triệu thùng/ngày, lên 3,6 triệu thùng/ngày. Trong khi đó, sản lượng dầu của Mỹ, vốn đạt mức cao nhất thế giới vào năm ngoái, đã leo lên mức cao kỷ lục mới là 12 triệu thùng/ngày.
Mặc dù vậy, Bộ trưởng Năng lượng Saudi Arabia Khalid al-Falih cho biết ông hy vọng thị trường dầu sẽ cân bằng vào tháng Tư và nguồn cung sẽ không bị gián đoạn do lệnh trừng phạt của Mỹ đối với Iran và Venezuela.
Kim loại quý: Vàng hướng tới tuần tăng thứ 2 liên tiếp
Giá vàng thế giới đi lên trong hầu hết các phiên giao dịch tuần qua, giữa bối cảnh đồng USD suy yếu và những tín hiệu cho thấy Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ mềm dẻo hơn trong chính sách lãi suất.
Phiên cuối tuần, giá vàng hồi phục khi đồng USD yếu đi bởi kinh tế Mỹ phát đi một vài số liệu tiêu cực, qua đó giúp mặt hàng kim loại quý này ghi nhận tuần đi lên thứ hai liên tiếp.
Kết thúc phiên đó, tại sàn giao dịch COMEX, giá vàng giao ngay tăng 0,3%, lên 1.327,40 USD/ounce. Tính chung cả tuần, giá vàng giao ngay tăng 0,5%. Trong khi đó, giá vàng giao tháng 4/2019 tăng 5 USD (0,4%), lên 1.332,80 USD/ounce, đánh dấu tuần tăng thứ hai liên tiếp với mức tăng 0,8%.
Phiên này, chỉ số đồng USD biến động không đáng kể so với rổ sáu đồng tiền chủ chốt, song hướng tới tuần giảm mạnh nhất trong một tháng qua, sau khi xuất hiện báo cáo cho hay lượng đơn đặt hàng tư liệu sản xuất của Mỹ bất ngờ giảm trong tháng 12/2018. Điều này càng củng cố khả năng Fed sẽ ngưng lộ trình nâng lãi suất trong năm nay.
Cũng trong phiên cuối tuần, giá bạc giao tháng 3/2019 tiến 0,7% lên 15,914 USD/ounce, qua đó góp phần nâng tổng mức tăng trong tuần lên 1,1%. Giá bạch kim giao tháng 4/2019 tăng 2,4% lên 845,90 USD/ounce, ghi nhận mức tăng 4,8% cả tuần. Trong khi đó, giá palađi giao tháng 3/2019 tăng 1,2% lên 1.462,20 USD/ounce. Tuần qua, giá kim loại này đã tăng 3,9%.
Kim loại công nghiệp: Giá tăng
Phiên cuối tuần, giá đồng tăng lên mức cao nhất kể từ tháng 7/2018, do dự trữ giảm và các nhà đầu tư lạc quan về một thỏa thuận thương mại Mỹ - Trung. Đồng kỳ hạn giao sau trên sàn London phá vỡ ngưỡng quan trọng 6.400 USD/tấn, tăng 1,6% lên 6.478 USD/tấn, cao nhất kể từ ngày 4/7/2018. Tính chung cả tuần, giá đồng tăng 4,6%, tuần tăng mạnh nhất kể từ tuần kết thúc ngày 21/9/2018.
Giá quặng sắt tại Trung Quốc tăng, song hướng tới tuần giảm đầu tiên trong năm 2019, do nhu cầu nguyên liệu sản xuất thép vẫn yếu, mặc dù lo ngại về nguồn cung. Giá quặng sắt kỳ hạn tháng 5/2019 trên sàn Đại Liên chỉ tăng 0,1% lên 618,5 CNY (92,05 USD)/tấn, trong phiên có lúc giảm mạnh 3,2%. Tính chung cả tuần, giá quặng sắt giảm 3% so với tuần trước đó, song tính từ đầu tháng đến nay, giá quặng sắt đã tăng hơn 3%.
Đồng thời, giá thép cây kỳ hạn trên sàn Thượng Hải tăng 1,6% lên 3.731 CNY/tấn và thép cuộn cán nóng tăng 0,9% lên 3.706 CNY/tấn.
ANZ Research cho biết: “Các nhà máy thép Trung Quốc dường như còn lưỡng lự bổ sung dự trữ, mặc dù thiếu hụt nguồn cung từ Brazil”.
Nông sản: Giá tăng trong phiên cuối tuần
Phiên cuối tuần, giá đường tăng do giá dầu thô tăng lên mức cao nhất năm 2019, trong khi giá cà phê cũng hồi phục khỏi mức thấp nhất 5 tháng trong phiên trước đó.
Giá đường thô kỳ hạn tháng 5/2019 tăng 0,1 US cent tương đương 0,8% lên 13,3 US cent/kg. Tính chung cả tuần, giá đường tăng 2,3%, tuần tăng thứ 4 liên tiếp. Giá đường trắng kỳ hạn tháng 5/2019 tăng 3,3 USD tương đương 0,9% lên 359,5 USD/tấn.
Giá cà phê arabica kỳ hạn tháng 5/2019 tăng 0,55 US cent tương đương 0,6% lên 1 USD/lb, rời khỏi mức thấp nhất 5 tháng (99,05 US cent/lb) trong phiên trước đó. Tính chung cả tuần, giá cà phê arabica giảm 1,6%, tuần giảm thứ 4 liên tiếp. Giá cà phê robusta giao cùng kỳ hạn tăng 6 USD tương đương 0,4% lên 1.539 USD/tấn. Tính chung cả tuần, giá giảm 1%.
Giá dầu cọ tại Malaysia tăng phiên thứ 2 liên tiếp, theo xu hướng giá dầu đậu tương trên sàn Chicago. Giá dầu cọ kỳ hạn tháng 5/2019 trên sàn Bursa tăng 0,1% lên 2.267 ringgit (555,5 USD)/tấn. Trong phiên trước đó, giá dầu cọ tăng lên 2.278 ringgit/tấn, cao nhất trong 3 phiên và tính chung cả tuần tăng 0,6%. Giá dầu đậu tương kỳ hạn tháng 3/2019 trên sàn Chicago tăng 1,8%, do các cuộc đàm phán thương mại Mỹ - Trung có thể đạt được thỏa thuận kết thúc chiến tranh thương mại.
Đồng thời, giá dầu đậu tương kỳ hạn tháng 5/2019 trên sàn Đại Liên tăng 0,6% và giá dầu cọ kỳ hạn tháng 5/2019 trên sàn Đại Liên tăng 0,3%.
Giá cao su tại Tokyo giảm phiên thứ 2 liên tiếp, song hướng tuần tăng mạnh nhất kể từ tháng 7/2017. Giá cao su kỳ hạn tháng 7/2019 trên sàn TOCOM giảm 1,5 JPY tương đương 0,8% xuống 193,6 JPY/kg, song tính chung cả tuần tăng 6,1%, tuần tăng mạnh nhất kể từ tháng 7/2017. Trong khi đó, giá cao su TSR20 kỳ hạn tháng 8/2019 trên sàn TOCOM tăng 1,8% lên 167,4 JPY/kg. Đồng thời, giá cao su kỳ hạn tháng 5/2019 trên sàn Thượng Hải tăng 120 CNY tương đương 1% lên 12.515 CNY/tấn.
Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá 16/2

Giá 23/22

23/2 so với 22/2

23/2 so với 22/2 (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

55,59

57,26

+0,30

+0,53%

Dầu Brent

USD/thùng

66,25

67,12

+0,05

+0,07%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

44.360,00

45.240,00

-20,00

-0,04%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,63

2,72

+0,02

+0,74%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

157,29

161,12

-0,32

-0,20%

Dầu đốt

US cent/gallon

202,03

203,11

-0,52

-0,26%

Dầu khí

USD/tấn

615,50

620,00

+0,50

+0,08%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

59.110,00

61.040,00

+50,00

+0,08%

Vàng New York

USD/ounce

1.322,10

1.332,80

+5,00

+0,38%

Vàng Tokyo

JPY/g

4.681,00

4.713,00

+3,00

+0,06%

Bạc New York

USD/ounce

15,74

16,01

+0,11

+0,67%

Bạc TOCOM

JPY/g

55,50

56,60

+0,20

+0,35%

Bạch kim

USD/ounce

807,80

842,86

+19,65

+2,39%

Palladium

USD/ounce

1.433,59

1.499,76

+25,99

+1,76%

Đồng New York

US cent/lb

279,85

294,80

+4,95

+1,71%

Đồng LME

USD/tấn

6.188,00

6.478,00

+98,00

+1,54%

Nhôm LME

USD/tấn

1.859,00

1.913,00

+8,00

+0,42%

Kẽm LME

USD/tấn

2.653,00

2.724,00

+41,00

+1,53%

Thiếc LME

USD/tấn

21.200,00

21.495,00

+70,00

+0,33%

Ngô

US cent/bushel

382,75

384,50

+0,25

+0,07%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

507,00

491,75

+0,75

+0,15%

Lúa mạch

US cent/bushel

275,75

274,25

-1,25

-0,45%

Gạo thô

USD/cwt

10,09

10,40

0,00

0,00%

Đậu tương

US cent/bushel

921,50

923,75

-0,50

-0,05%

Khô đậu tương

USD/tấn

310,50

309,40

-0,40

-0,13%

Dầu đậu tương

US cent/lb

30,28

30,85

+0,03

+0,10%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

484,80

481,40

-1,50

-0,31%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.339,00

2.288,00

+13,00

+0,57%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

101,65

100,00

+0,55

+0,55%

Đường thô

US cent/lb

13,00

13,30

+0,10

+0,76%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

115,20

121,85

+1,50

+1,25%

Bông

US cent/lb

71,86

73,01

-1,00

-1,35%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

408,30

393,50

-0,80

-0,20%

Cao su TOCOM

JPY/kg

183,30

198,90

+5,30

+2,74%

Ethanol CME

USD/gallon

1,33

1,37

+0,00

+0,22%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg