Năng lượng: Giá dầu tiếp tục tăng
Phiên giao dịch cuối tuần, giá dầu thô ngọt nhẹ (WTI) giao tháng 11/2017 trên sàn New York tăng 11 US cent (0,2%), lên 50,66 USD/thùng; dầu Brent Biển Bắc trên sàn London giao tháng 11/2017 cũng tăng 43 US cent (0,8%), lên 56,86 USD/thùng. Tính chung cả tuần qua, giá dầu WTI ghi thêm 1,5%, đánh dấu tuần tăng giá thứ ba liên tiếp, trong khi dầu Brent tăng 2,2%, ghi nhận tuần tăng giá thứ tư liên tiếp của mặt hàng này.
Các nhà sản xuất dầu chủ chốt tại cuộc họp mới nhất của Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) cho hay mức độ tuân thủ thỏa thuận cắt giảm sản lượng trong tháng 8/2017 đã chuyển biến tích cực so với tháng trước đó.
Ông John Kilduff, một đối tác của Again Capital Management tại New York, cho biết các cơ quan chức năng và giới doanh nghiệp ở Mỹ vẫn đang đánh giá những thiệt hại do các cơn bão vừa qua gây ra. Theo ông, thậm chí dù các nhà máy lọc dầu tại Mỹ hoạt động trở lại thì việc khôi phục nhập khẩu dầu tại các bến cảng có thể làm lượng dầu dự trữ của nước này gia tăng.
OPEC vừa khép lại tại Vienna (Áo). Dù không đưa ra bất cứ quyết định nào về việc gia hạn thỏa thuận cắt giảm sản lượng, song thông tin tích cực mà Ủy ban Giám sát chung các nước trong và ngoài OPEC mang tới cho thị trường dầu mỏ là việc các nhà sản xuất tham gia thỏa thuận cắt giảm sản lượng đã đạt được mức tuân thủ 116% trong tháng Tám, so với mức 94% đạt được hồi tháng Bảy và là mức tuân thủ cao kỷ lục.
Báo cáo của công ty dịch vụ dầu khí Baker Hughes cho biết, số giàn khoan dầu đang hoạt động tại Mỹ trong tuần qua đã giảm 5 giàn, còn 744 giàn, đánh dấu tuần sụt giảm thứ ba liên tiếp.
Trong ba tháng qua, giá dầu thế giới tăng thêm 15%, cho thấy thỏa thuận cắt giảm sản lượng của OPEC nhằm thu hẹp nguồn cung và vực dậy giá dầu đã phần nào phát huy hiệu quả.
Ngoài ra, nhu cầu tiêu thụ dầu tăng cao cũng hỗ trợ cân bằng thị trường.
Kim loại quý: Giá vàng giảm gần 2%
Căng thẳng giữa Mỹ và CHDCND Triều Tiên khiến nhiều nhà đầu tư tìm đến các tài sản an toàn như vàng, qua đó giúp giá kim loại quý này đảo chiều tăng nhẹ trong phiên cuối tuần. Tuy nhiên tính chung cả tuần vẫn giảm.
Phiên cuối tuần, giá vàng giao ngay tăng 0,36%, lên 1.295,71 USD/ounce, sau khi chạm mức thấp nhất bốn tuần vào phiên trước; vàng giao tháng 12/2017 cũng tăng 2,7 USD (0,21%), lên 1.297,50 USD/ounce. Tuy nhiên tính chung cả tuần, giá vàng giao ngay mất 1,5%, ghi dấu tuần giảm giá mạnh nhất kể từ đầu tháng Bảy; vàng giao sau giảm hơn 2%.
Trong phiên cuối tuần, giá bạc đi ngang ở mức 16,95 USD/ounce. Giá bạch kim cũng hạ 0,86%, xuống 927,50 USD/ounce, trong khi giá palađi tăng 1,08%, lên 920,33 USD/ounce.
Ngay từ những phiên đầu tuần, giá vàng thế giới đã đi xuống, do đồng USD mạnh lên và lợi suất trái phiếu chính phủ cũng như chỉ số chứng khoán của Mỹ tăng trước thềm cuộc họp kéo dài hai ngày của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed).
Fed phát đi tín hiệu có thể sẽ nâng tiếp lãi suất trong tháng 12 tới. Bên cạnh đó, ngân hàng này thông báo bắt đầu từ tháng Mười tới sẽ giảm lượng trái phiếu chính phủ và trái phiếu có bảo đảm bằng thế chấp trị giá khoảng 4.200 tỷ USD mà Fed đang nắm giữ, với lượng cắt giảm ban đầu là 10 tỷ USD mỗi tháng.
Tuy nhiên, căng thẳng địa chính trị giữa Mỹ và CHDCND Triều Tiên "nóng" vẫn đang hậu thuẫn giá vàng. Tổng thống Mỹ Donald Trump đã công bố sắc lệnh hành chính áp đặt các lệnh trừng phạt mới với Triều Tiên. Theo đó, Washington để ngỏ khả năng mở rộng danh sách đen những cá nhân và thực thể có hoạt động kinh doanh với Bình Nhưỡng, bao gồm cả hoạt động vận chuyển đường biển và các mạng lưới thương mại, siết chặt hơn nữa việc giám sát các chương trình hạt nhân và tên lửa của nước này. Và mới đây, Bộ trưởng Ngoại giao CHDCND Triều Tiên Ri Yong-ho rằng nước này có thể thử bom nhiệt hạch (bom H) có sức công phá mạnh nhất trên Thái Bình Dương nhằm phản ứng "ở mức cao nhất" đối với Mỹ.
Nông sản: Giá đường và cà phê giảm
Phiên cuối tuần, giá đường thô giao ngay giảm 0,09 US cent tương đương 0,6% xuống 14,64 US cent/lb, và tính chung cả tuần giảm 3,5% do nguồn cung dồi dào trên toàn cầu. Đường trắng giao tháng 12 cũng giảm 2 USD tương đương 0,5% xuống 368,USD/tấn.
Cà phê cũng giảm giá, với cà phê arabica giá giảm 0,55 US cent tương đương 0,41% xuống 1,3445 USD/lb, tính chung cả tuần giá giảm 4,9%. Robusta cũng giảm 7 USD trong cùng phiên xuống 2.005 USD/tấn, tính chung cả tuần giá giảm 0,65%.
Thị trường ngũ cốc thế giới biến động trái chiều vào lúc đóng cửa phiên giao dịch cuối tuần, trong đó đậu tương kỳ hạn tăng lên mức cao nhất trong 6 tuần qua một phần nhờ nhu cầu xuất khẩu tăng mạnh; giá ngô tiếp tục xu hướng ổn định, nhờ lực mua mang tính kỹ thuật; còn giá lúa mỳ kỳ hạn tăng lên mức cao nhất trong một tháng trước khi thoái lui.
Cụ thể, giá ngô giao tháng 12/2017 tăng 3,25 US cent (tương đương 0,93%) lên 3,535 USD/bushel. Trong khi đó, giá lúa mỳ giao tháng 12/2017 giảm 3 US cent (0,66%) xuống còn 4,495 USD/bushel. Còn giá đậu tương giao tháng 11/2017 tăng 13,5 US cent (1,39%) lên 9,8425 USD/bushel.
Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) cho hay các nhà xuất khẩu tư nhân nước này đã thông báo về việc xuất khẩu 190.000 tấn đậu tương sang Mexico trong niên vụ 2017-2018.
Những dự đoán trái chiều về sản lượng đậu tương của Mỹ cũng tác động tới giá nông sản này. Trong báo cáo hàng tháng mới công bố, Bộ Nông nghiệp Mỹ đã nâng dự báo sản lượng đậu tương của nước này lên 49,9 bushel/acre, từ mức ước tính 49,4 bushel/acre hồi tháng 8/2017.
Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

16/9

23/9

23/9 so với 22/9

23/9 so với 22/9 (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

49,89

50,66

+0,11

+0,22%

Dầu Brent

USD/thùng

55,62

56,86

+0,43

+0,76%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

37.060,00

37.760,00

-20,00

-0,05%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

3,02

2,96

+0,01

+0,44%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

166,17

166,84

+2,46

+1,50%

Dầu đốt

US cent/gallon

179,88

181,63

+0,10

+0,06%

Dầu khí

USD/tấn

534,75

541,50

+0,25

+0,05%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

51.620,00

52.390,00

-50,00

-0,10%

Vàng New York

USD/ounce

1.325,20

1.297,50

+2,70

+0,21%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.693,00

4.660,00

+3,00

+0,06%

Bạc New York

USD/ounce

17,70

16,98

-0,03

-0,20%

Bạc TOCOM

JPY/g

62,50

61,30

-0,30

-0,49%

Bạch kim giao ngay

USD/t oz.

969,05

294,45

+1,00

+0,34%

Palladium giao ngay

USD/t oz.

924,92

6.457,00

-23,00

-0,35%

Đồng New York

US cent/lb

294,90

2.158,00

-13,00

-0,60%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

6.507,00

3.031,00

-69,50

-2,24%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

2.086,00

20.525,00

+75,00

+0,37%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

3.031,00

294,45

+1,00

+0,34%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

20.540,00

6.457,00

-23,00

-0,35%

Ngô

US cent/bushel

354,75

353,50

+3,25

+0,93%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

449,00

449,50

-3,00

-0,66%

Lúa mạch

US cent/bushel

236,00

248,00

-2,00

-0,80%

Gạo thô

USD/cwt

12,81

12,37

-0,34

-2,71%

Đậu tương

US cent/bushel

968,75

984,25

+13,50

+1,39%

Khô đậu tương

USD/tấn

311,40

319,00

+6,10

+1,95%

Dầu đậu tương

US cent/lb

34,81

34,22

-0,12

-0,35%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

489,10

494,80

+2,70

+0,55%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.009,00

1.983,00

-38,00

-1,88%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

141,40

134,45

-0,55

-0,41%

Đường thô

US cent/lb

15,17

14,64

-0,09

-0,61%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

149,65

146,80

-5,45

-3,58%

Bông

US cent/lb

69,07

68,46

+0,21

+0,31%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

379,20

393,10

+4,70

+1,21%

Cao su TOCOM

JPY/kg

221,40

213,50

+3,00

+1,43%

Ethanol CME

USD/gallon

1,55

1,49

+0,02

+1,02%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg