Năng lượng: Giảm phiên cuối tuần, tăng nhẹ cả tuần
Phiên giao dịch cuối tuần, giá dầu giảm bởi lo ngại trữ lượng dầu thô tại Mỹ gia tăng và nhà đầu tư bắt đầu rút dầu thô trở lại để tiết kiệm chi phí kho bãi đắt đỏ.
Dầu thô ngọt nhẹ (WTI) kỳ hạn giao tháng 4/2017 trên sàn New York giảm giảm 46 cent xuống 53,99USD/thùng, trong khi đó dầu Brent cùng kỳ hạn trên sàn London giảm 58 US cent xuống 56 USD/thùng.
Tuy nhiên, tính chung cả tuần, giá dầu WTI tăng 1,1%, dầu Brent cũng tăng nhẹ 0,3%.
Diễn biến giá dầu thô Brent trong tuần. Nguồn: CNBC
Baker Hughes công bố số liệu cho thấy số giàn khoan tại Mỹ tăng thêm 5 giàn trong tuần trước, vượt mốc 600 giàn lần đầu tiên kể từ tháng 10/2015
Trữ lượng dầu thô Mỹ tăng 564.000 thùng trong tuần kết thúc vào ngày 17/2, theo số liệu của Cơ quan thông tin năng lượng. Mức tăng này chưa đạt dự đoán tăng 3,5 triệu thùng của các chuyên gia.
Các nước sản xuất dầu trong và ngoài Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC), trong đó có Nga, đã cam kết sẽ cắt giảm sản lượng khoảng 1,8 triệu thùng/ngày để giải quyết tình trạng nguồn cung dư thừa đã đeo bám thị trường kể từ năm 2014.
Trong khi OPEC dường như khá “tuân thủ” với thỏa thuận của mình, các nhà sản xuất nằm ngoài thỏa thuận này, nhất là các nhà sản xuất dầu khí đá phiến của Mỹ, đã tăng sản lượng, qua đó khiến các kho dự trữ tại Mỹ, nước tiêu thụ dầu lớn nhất thế giới, đầy lên.
Theo số liệu của Thomson Reuters Eikon, các tàu chở dầu neo tại các cảng của các nước Đông Nam Á như Singapore, Malaysia và Indonesia đã giao cho khách hàng hơn 12 triệu thùng dầu trong tháng này.
Bộ trưởng Dầu mỏ Iran Bijan Zanganeh cho rằng các quốc gia thành viên của Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) sẽ không được hưởng lợi nếu giá dầu đạt trên 55 USD/thùng.
Phát biểu với các phóng viên sau cuộc gặp với Bộ trưởng Năng lượng Nga Alexander Novak, ông Zanganeh nói rằng nếu giá dầu lên hơn 60 USD/thùng, các nhà sản xuất không thuộc OPEC sẽ tăng sản lượng nhằm hưởng lợi nhiều nhất từ việc giá cả gia tăng.
Quan chức Iran nhấn mạnh rằng một khi giá dầu thô tăng quá nhanh sẽ lại dẫn tới một cuộc đua sản lượng khiến các nước xuất khẩu OPEC không được lợi.
Kim loại quý: Giá vàng tăng khá mạnh
Tiếp nối đà tăng mạnh của phiên trước, trong phiên này giá vàng giao ngay tiếp tục tăng từ ngưỡng 1.250 USD/ounce lên ngưỡng 1.260 USD/ounce. Mức giá cao nhất ghi nhận được trong phiên là 1.260,80 USD/ounce. Đây là mức cao nhất của giá vàng kể từ cuối tháng 10/2016 tới nay.
Giới phân tích cho rằng, diễn biến đi xuống của chỉ số đồng USD khi tiếp tục giảm 0,2% xuống 100,87 đã hỗ trợ cho giá vàng. Các đồn đoán về khả năng Fed tăng lãi suất trong tháng 3 này đã dịu đi và các chính sách của Tân Tổng thống Mỹ cùng với các cuộc bầu cử sắp tới tại Châu Âu đang thúc đẩy dòng tiền tìm tới những tài sản đảm bảo an toàn.
Qua hai phiên tăng giá mạnh cuối tuần, giá vàng tăng khoảng 50 USD mỗi ounce trong tuần qua, và mức tăng chung tính trong 30 ngày qua của giá vàng thế giới đã lên tới 56,20 USD/ounce (tương đương 4,68%).
Kim loại cơ bản: Giá đồng giảm tuần thứ 2 liên tiếp
Giá đồng tăng nhẹ trong phiên cuối tuần, nhưng giảm nếu tính trong 5 phiên giao dịch tuần qua mặc dù vẫn lo ngại về sự gián đoạn nguồn cung ở Chile và Indonesia. Đây là tuần thứ 2 liên tiếp giá đồng giảm bởi triển vọng nhu cầu yếu.
Ngũ cốc: Lúa mì, ngô xuống mức thấp nhất 2 tuần do bán tháo
Phiên giao dịch cuối tuần, giá lúa mì và ngô kỳ hạn trên sàn Chicago giảm xuống mức thấp nhất trong vòng hơn 2 tuần. Hoạt động bán tháo đang diễn ra sau những dự báo cho thấy nguồn cung trên thị trường thế giới dồi dào và vụ thu hoạch bội thu ở Argentina.
Hàng hoá nhẹ: Đường xuống thấp nhất 7 tuần, arabica tiếp tục giảm giá
Phiên giao dịch cuối tuần, giá đường thô giảm xuống mức thấp nhất trong vòng hơn 7 tuần, arabica cũng giảm, cả 2 đang chịu áp lực bởi hoạt động bán ra.
Đường thô giảm giá 0,32 US cent hay 1,6% trong phiên cuối tuần, xuống 19,81 UScent/lb, và kết thúc tuần thứ 3 liên tiếp giảm giá.
Đường trắng cũng giảm 6,5 USD hay 1,2% xuống 542,10 USD/tấn.

Cà phê arabica giao tháng 5 trên sàn New York giảm giá 3,7 US cent hay 2,5% xuống 1,4625 USD/lb, trong khi robusta trên sàn London kỳ hạn giao tháng 5 giảm 29 USD hay 1,4% xuống 2.126 USD/tấn.

Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá 18/2

Giá 25/2

Giá 25/2 so với 24/2

Giá 25/2 so với 24/2 (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

53,40

53,99

-0,46

-0,84%

Dầu Brent

USD/thùng

55,81

55,99

-0,59

-1,04%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

38.210,00

38.290,00

-530,00

-1,37%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,83

2,63

+0,01

+0,38%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

151,66

151,48

-1,38

-0,90%

Dầu đốt

US cent/gallon

163,64

164,04

-1,63

-0,98%

Dầu khí

USD/tấn

490,00

496,75

-5,50

-1,10%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

47.030,00

47.320,00

-390,00

-0,82%

Vàng New York

USD/ounce

1.239,10

1.258,30

+6,90

+0,55%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.467,00

4.512,00

-11,00

-0,24%

Bạc New York

USD/ounce

18,05

18,41

+0,22

+1,22%

Bạc TOCOM

JPY/g

64,80

66,00

+0,50

+0,76%

Bạch kim giao ngay

USD/t oz.

1.003,33

1.027,50

+17,89

+1,77%

Palladium giao ngay

USD/t oz.

777,59

771,48

-2,87

-0,37%

Đồng New York

US cent/lb

5.960,00

269,60

+3,70

+1,39%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

1.880,00

5.928,00

+69,00

+1,18%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

2.809,50

1.885,00

+18,00

+0,96%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

19.725,00

2.829,00

+39,00

+1,40%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

5.960,00

19.150,00

+370,00

+1,97%

Ngô

US cent/bushel

375,50

370,75

-1,75

-0,47%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

441,00

448,00

-5,50

-1,21%

Lúa mạch

US cent/bushel

251,25

250,00

-2,75

-1,09%

Gạo thô

USD/cwt

9,34

9,68

-0,04

-0,41%

Đậu tương

US cent/bushel

1.043,25

1.024,25

+1,75

+0,17%

Khô đậu tương

USD/tấn

343,90

335,70

+0,50

+0,15%

Dầu đậu tương

US cent/lb

33,16

32,67

+0,08

+0,25%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

525,00

516,70

-0,50

-0,10%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.000,00

1.994,00

-32,00

-1,58%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

149,55

146,25

-3,70

-2,47%

Đường thô

US cent/lb

20,26

19,81

-0,32

-1,59%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

176,25

172,05

-3,75

-2,13%

Bông

US cent/lb

75,52

76,57

+0,47

+0,62%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

371,10

379,60

+4,10

+1,09%

Cao su TOCOM

JPY/kg

299,40

279,50

+4,00

+1,45%

Ethanol CME

USD/gallon

1,55

1,53

0,00

-0,20%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg