Năng lượng: Giá dầu giảm
Phiên cuối tuần, giá dầu tăng do tình hình chính trị phức tạp tại Venezuela. Tuy nhiên, mối lo về sự gia tăng dự trữ nhiên liệu của Mỹ và triển vọng kinh tế toàn cầu vẫn gây áp lực lên giới đầu tư.
Kết thúc phiên này, giá dầu Brent tăng 55 US cent (0,9%) lên 61,64 USD/thùng; dầu WTI tăng 56 US cent (1,05%) lên 53.69 USD/thùng.
Tuy nhiên, tính chung cả tuần, giá dầu Brent giảm khoảng 1,7%, còn dầu ngọt nhẹ (WTI) giảm khoảng 0,2%. Nguyên nhân bởi lo ngại về triển vọng kinh tế toàn cầu không mấy sáng sủa.
Mới đây, IMF cảnh báo đối đầu thương mại Mỹ-Trung, việc Anh rời khỏi Liên minh châu Âu (EU) cùng những bất ổn khác đang có nguy cơ khiến tăng trưởng toàn cầu bị giảm sâu hơn nữa. IMF đã hạ mức tăng trưởng toàn cầu trong năm nay xuống 3,5%, từ mức 3,7% đưa ra hồi tháng 10/2018. Đồng thời, IMF dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu trong năm 2020 là 3,6%.
Bên cạnh đó, các chuyên gia cho rằng thị trường dầu mỏ hiện nay vẫn đang trong tình trạng dư cung, nhờ sự gia tăng sản lượng tại Mỹ. Theo các chuyên gia này, Mỹ có thể giúp bù đắp sự sụt giảm tạm thời sản lượng dầu thô của Venezuela. Tại Mỹ, nơi các mỏ khai thác dầu đá phiến đã bùng nổ số lượng và hoạt động trong năm qua, số liệu chính thức mới nhất cho thấy sản lượng dầu thô của quốc gia này đạt mức kỷ lục 11,9 triệu thùng/ngày.
Hiện giới đầu tư đang lo ngại về kế hoạch cắt giảm sản lượng mà Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) và Nga đang thực hiện sẽ không hiệu quả như dự kiến khi Moskva tỏ ra không mấy “nhiệt tình” với việc hạ sản lượng.
Bộ trưởng Năng lượng Nga Alexander Novak cho biết sản lượng khai thác dầu của nước này trong tháng 1/2019 đã giảm hơn 30.000 thùng/ngày so với mức của tháng 10/2018. Trước đó, Nga đã cam kết cắt giảm 230.000 thùng dầu/ngày trong ba tháng đầu năm 2019.
Trong một đánh giá, ngân hàng Barclays (Anh) hạ dự báo giá dầu Brent trong năm 2019 xuống 70 USD/thùng, so với mức 72 USD/thùng đưa ra trước đó.
Kim loại quý: Giá vàng tăng
Phiên cuối tuần qua, giá vàng tăng lên mức cao trong hơn 7 tháng, do đồng USD yếu đi trước thềm cuộc họp của Fed vào tuần tới. Kết thúc phiên này, vàng giao ngay tăng 1,3% lên 1.297,26 USD/ounce, sau khi có lúc vọt lên 1.300,30 USD/ounce, mức cao nhất kể từ ngày 15/6 vào đầu phiên; vàng giao sau tăng 1,4% lên 1.298,10 USD/ounce.
Nhà phân tích Fawad Razaqzada, thuộc trang Forex.com, nhận định nhân tố chính hỗ trợ giá vàng trong phiên này là sự sụt giảm của đồng USD, trước đồn đoán Fed sẽ tạm dừng chính sách tăng lãi suất vào tuần tới. Trong khi đó, nhà giao dịch Michael Matousek, tại U.S. Global Investors, nhận định sự yếu đi của chứng khoán là nhân tố hỗ trợ giá vàng và thị trường đang chuyển hướng sang kim loại quý này như một tài sản an toàn.
Giá vàng đã tăng hơn 10% kể từ khi chạm các mức thấp nhất trong một năm rưỡi qua hồi giữa tháng Tám năm ngoái, chủ yếu là vì những lo ngại về đà tăng trưởng giảm tốc trên toàn cầu, dự đoán Mỹ tạm dừng việc tăng lãi suất, và gần đây nhất là tình trạng đóng cửa chính phủ kéo dài ở Mỹ.
Trong năm 2018, trước tình hình căng thẳng thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc, đồng USD đã vượt qua vàng để trở thành “nơi trú ẩn” ưa thích của giới đầu tư. Tuy nhiên, các nhà phân tích nhận định kịch bản nói trên sẽ không tái diễn trong năm nay, khi triển vọng Fed dừng tăng lãi suất đang gây sức ép đối với đồng bạc xanh.
Bên cạnh đó, các chuyên gia cho rằng những nguy cơ từ tình hình kinh tế-chính trị cũng sẽ tác động tích cực đến thị trường vàng.
Về những kim loại quý khác, giá bạch kim phiên tăng 1,5% lên 813 USD/ounce, hướng tuần tăng đầu tiên trong 3 tuần; bạc tăng 2,3% lên 15,66 USD/ounce, trong khi bạch kim tăng 1,5% lên 813 USD, hướng đến tuần tăng đầu tiên trong vòng 3 tuần.
Kim loại công nghiệp: Giá hầu hết tăng
Phiên cuối tuần, giá thép cây tại Trung Quốc tăng 2% lên cao nhất hơn 12 tuần, và hướng tới tuần tăng mạnh nhất kể từ đầu tháng 12/2018, do nhu cầu dự trữ bổ sung trước tuần nghỉ lễ.
Giá thép cây kỳ hạn trên sàn Thượng Hải tăng 1,4% lên 3.710 CNY/tấn, trong đầu phiên giao dịch đạt 3.740 CNY (553,38 USD)/tấn, cao nhất kể từ ngày 1/11/2018. Tính chung cả tuần, giá thép cây tăng 3,2%, tuần tăng mạnh nhất kể từ ngày 7/12/2018. Đồng thời, giá thép cuộn cán nóng kỳ hạn tăng 0,9% lên 3.608 CNY/tấn và giá quặng sắt kỳ hạn trên sàn Đại Liên tăng 0,3% lên 534 CNY/tấn.
Dự trữ sản phẩm thép của các thương nhân Trung Quốc tính đến ngày 25/1/2019 tăng 672.400 tấn lên 9,91 triệu tấn, trong đó dự trữ thép cây tăng 11,9% và dự trữ thép cuộn tăng 13,8%, công ty tư vấn Mysteel cho biết.
Trong số các kim loại cơ bản, giá kẽm đạt mức cao nhất 3 tháng do lo ngại sản lượng kẽm tinh chế tại Trung Quốc giảm có thể khiến thị trường toàn cầu thiếu hụt. Chì cũng đạt mức cao nhất hơn 3 tháng sau khi dự trữ giảm, trong khi thị trường kim loại công nghiệp được thúc đẩy bởi đồng USD suy giảm.
Giá kẽm kỳ hạn trên sàn London tăng 1,3% lên 2.673 USD/tấn, trong phiên có lúc đạt 2.679,5 USD/tấn, mức cao nhất kể từ ngày 24/10/2018, do dự trữ kẽm tại LME giảm 1/2 trong tháng này xuống mức thấp nhất kể từ tháng 10/2007.
Giá chì giao sau 3 tháng trên sàn London tăng 1,7% lên 2.109 USD/tấn, cao nhất kể từ ngày 15/10/2018, do dự trữ chì tại LME giảm 20% trong 2 tuần qua, xuống 82.975 tấn, thấp nhất kể từ tháng 6/2009.
Đồng thời, giá đồng giao sau 3 tháng tăng 2,3% lên 6.056 USD/tấn, cao nhất 1 tuần. Giá nhôm tăng 1,5% lên 1.919,5 USD/tấn, cao nhất 1 tháng. Nickel tăng 1,7% lên 11.965 USD/tấn, cao nhất kể từ ngày 2/11/2018.
Nông sản: Giá biến động thất thường
Giá đường thô giao tháng 3/2019 trong phiên cuối tuần giảm 0,54 US cent tương đương 4% xuống 12,44 US cent/lb, tính chung cả tuần giảm 4,5%; đường trắng giao cùng kỳ hạn giảm 12,10 USD tương đương 3,5% xuống 339,1 USD/tấn. Cà phê arabica giao tháng 3/2019 tăng 1,5 US cent tương đương 1,4% lên 1,068 USD/lb, tính chung cả tuần tăng 1,7%, trong khi robusta giao tháng 5/2019 giảm 12 USD tương đương 0,8% xuống 1.557 USD/tấn.
Đậu tương trong phiên cuối tuần tăng 8,5 US cet, hay 0,93%, lên 9,2525 USD/bushel; lúa mỳ giao cùng kỳ hạn cộng thêm 0,43% (2,25 US cent) và khép lại tuần giao dịch vừa qua ở mức 5,2 USD/bushel; giá ngô giảm 0,39% (1,5 US cent) xuống 3,8025 USD/bushel.
Parana – khu vực sản xuất đậu tương lớn thứ 2 của Brazil – cắt giảm dự báo sản lượng vụ thu hoạch niên vụ 2018/19 xuống 16,8 triệu tấn so với 19,1 triệu tấn dự báo trước đó.
Trung Quốc là nước thu mua đậu tương hàng đầu thế giới. Bất kỳ diễn biến tích cực nào xung quanh cuộc đàm phán thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc sẽ góp phần thúc đẩy giá đậu tương.
Do tình trạng Chính phủ Mỹ đóng cửa kéo dài, Bộ Nông nghiệp Mỹ đã không cập nhật doanh thu xuất khẩu, nguồn cung và nhu cầu kể từ ngày 22/12/2018. Các nhà giao dịch trên sàn giao dịch hàng hóa Chicago phải tìm kiếm số liệu từ các kênh khác, đồng thời vẫn chú ý đến những diễn biến mới liên quan tới các cuộc đàm phán thương mại đang diễn ra giữa Mỹ và Trung Quốc.
Giá lúa mỳ kỳ hạn ổn định nhờ hy vọng giá tăng tại Nga, nước xuất khẩu lớn nhất thế giới, sẽ hỗ trợ xuất khẩu của Mỹ. Trong khi đó, Australia sẽ xuất khẩu rất ít lúa mỳ trong 12-13 tháng tới.
Giá dầu cọ tại Malaysia giảm khỏi mức cao nhất 5 tháng đạt được trong phiên trước đó, do đồng ringgit tăng mạnh gây áp lực thị trường. Giá dầu cọ kỳ hạn tháng 4/2019 trên sàn Bursa giảm 0,1% xuống 2.295 ringgit (555,15 USD)/tấn, song tính chung cả tuần, giá dầu cọ tăng 3,1%. Trong khi đó, giá dầu đậu tương kỳ hạn tháng 3/2019 trên sàn Chicago tăng 0,2%, giá dầu đậu tương kỳ hạn tháng 5/2019 trên sàn Đại Liên tăng 0,2% và giá dầu cọ kỳ hạn tháng 1/2019 trên sàn Đại Liên tăng 0,1%.
Đồng ringgit tăng mạnh, khiến giá dầu cọ trở nên đắt hơn đối với khách mua hàng nước ngoài. Đồng ringgit tăng 0,2% so với đồng USD lên 4,134.
Ấn Độ - nước nhập khẩu dầu thực vật lớn nhất thế giới – cho biết, sẽ giảm thuế nhập khẩu dầu cọ thô xuống 40% từ mức 44% trước đó, trong khi thuế nhập khẩu dầu tinh chế giảm xuống 50% từ mức 54% trước đó. Malaysia cũng giảm thuế xuất khẩu dầu cọ tinh chế xuống 45% so với 54% trước đó.
Giá cao su tại Tokyo tăng do giá dầu tăng, song hướng tới tuần giảm đầu tiên trong 4 tuần, trong bối cảnh lo ngại tranh chấp thương mại Mỹ - Trung Quốc kéo dài và tăng trưởng kinh tế toàn cầu chậm lại.
Giá cao su kỳ hạn tháng 6/2019 trên sàn TOCOM tăng 1,5 JPY tương đương 0,8% lên 182,8 JPY (1,67 USD)/kg. Song tính chung cả tuần, giá cao su giảm 1,8%.
Giá cao su TSR20 kỳ hạn tháng 7/2019 trên sàn TOCOM tăng 1,2% lên 154,3 JPY/kg, trong khi đó giá cao su kỳ hạn tháng 5/2019 trên sàn Thượng Hải giảm 10 CNY xuống 11.610 CNY (1.718 USD)/tấn.

Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá 19/1

Giá 26/1

26/1 so với 25/1

26/1 so với 25/1 (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

53,80

53,69

+0,56

+1,05%

Dầu Brent

USD/thùng

62,70

61,64

+0,55

+0,90%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

41.600,00

40.930,00

-400,00

-0,97%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

3,48

3,18

+0,08

+2,55%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

145,28

138,94

+0,18

+0,13%

Dầu đốt

US cent/gallon

191,60

189,19

+0,63

+0,33%

Dầu khí

USD/tấn

575,00

568,50

+0,75

+0,13%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

57.690,00

57.550,00

-360,00

-0,62%

Vàng New York

USD/ounce

1.282,60

1.304,20

+18,30

+1,42%

Vàng Tokyo

JPY/g

4.513,00

4.563,00

+57,00

+1,26%

Bạc New York

USD/ounce

15,40

15,70

+0,40

+2,61%

Bạc TOCOM

JPY/g

54,20

55,20

+0,90

+1,66%

Bạch kim

USD/ounce

797,66

818,18

+14,95

+1,86%

Palladium

USD/ounce

1.381,42

1.364,03

+39,85

+3,01%

Đồng New York

US cent/lb

271,90

272,90

+8,45

+3,20%

Đồng LME

USD/tấn

6.052,00

6.056,00

+134,00

+2,26%

Nhôm LME

USD/tấn

1.870,00

1.920,00

+29,50

+1,56%

Kẽm LME

USD/tấn

2.580,00

2.673,00

+33,00

+1,25%

Thiếc LME

USD/tấn

20.625,00

20.675,00

-250,00

-1,19%

Ngô

US cent/bushel

381,75

380,25

+3,25

+0,86%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

517,75

520,00

-1,50

-0,29%

Lúa mạch

US cent/bushel

298,75

291,00

+0,25

+0,09%

Gạo thô

USD/cwt

10,63

10,67

0,00

-0,05%

Đậu tương

US cent/bushel

916,75

925,25

+9,25

+1,01%

Khô đậu tương

USD/tấn

315,10

313,90

+1,60

+0,51%

Dầu đậu tương

US cent/lb

29,01

30,03

+0,52

+1,76%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

484,20

488,50

+1,50

+0,31%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.307,00

2.225,00

-31,00

-1,37%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

104,95

106,80

+1,50

+1,42%

Đường thô

US cent/lb

13,03

12,44

-0,54

-4,16%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

119,85

119,40

+0,25

+0,21%

Bông

US cent/lb

73,89

74,13

+0,99

+1,35%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

354,90

381,50

+0,40

+0,10%

Cao su TOCOM

JPY/kg

186,20

182,20

-0,60

-0,33%

Ethanol CME

USD/gallon

1,28

1,29

+0,01

+0,86%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg