Năng lượng: Dầu giảm giá gần 5% trong tuần, kết thúc chuỗi 6 tuần tăng liên tiếp
Phiên cuối tuần, giá dầu giảm mạnh sau thông ti Saudi Arabia và Nga thảo luận hạn chế cắt giảm sản xuất.
Kết thúc phiên giao dịch cuối tuần, giá dầu thô Brent giảm 2,35 USD, hay 3%, xuống mức 76,44 USD/thùng; tính chung cả tuần, giảm khoảng 2,7% nhiều nhất kể từ đầu tháng Tư; dầu thô ngọt nhẹ (WTI) giảm 2,83 USD, tương đương 4%, chốt phiên ở mức 67,88 USD/thùng, tính chung cả tuần giảm 4,9%, mức giảm mạnh nhất kể từ đầu tháng Hai
Lo ngại về nguy cơ thiếu hụt nguồn cung từ Venezuela và Iran đã bị đẩy lùi khi OPEC và Nga đang thảo luận về việc nâng sản lượng lần đầu tiên kể từ năm 2016. Hãng tin Bloomberg cho biết, các nhà sản xuất dầu chủ chốt đang xem xét khả năng bơm thêm 300.000 – 800.000 thùng/ngày, trong khi hãng tin Reuters dự đoán con số này có thể lên đến 1 triệu thùng/ngày.
Theo kế hoạch, OPEC sẽ tổ chức cuộc họp vào ngày 22/6 tới.
Báo cáo từ công ty dịch vụ dầu khí Baker Hughes cho biết, số giàn khoan dầu đang hoạt động tại Mỹ trong tuần qua đã tăng thêm 15 giàn, lên 859 giàn, đánh dấu tuần tăng mạnh nhất kể từ tuần kết thúc ngày 9/2/2018. Thông tin này càng tạo áp lực giảm giá lên thị trường năng lượng.
Dù vậy, các chuyên gia phân tích từ Société Générale vẫn nâng dự báo giá dầu trung bình năm 2019 lên 72,75 USD/thùng đối với dầu Brent và 67,75 USD/thùng đối với dầu WTI.
Tuần qua thị trường dầu biến động rất mạnh. Phiên đầu tuần giá tăng mạnh lên mức cao nhất kể từ giữa năm 2014 do lo ngại sản lượng dầu tại Venezuela có thể sẽ tiếp tục giảm sâu sau cuộc bầu cử Tổng thống và nguy cơ Caracas sẽ rơi vào tầm ngắm cấm vận của các nước. Trong vòng hai năm qua, sản lượng dầu của Venezuela đã giảm đến 1/3, xuống mức thấp nhất trong nhiều thập kỷ.
Kim loại quý: Giá vàng trong tuần tăng do lo ngại bất ổn địa chính trị
Phiên giao dịch cuối tuần, giá vàng giảm nhẹ sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump cho biết cuộc họp với lãnh đạo Bắc Triều Tiên vẫn có thể tiếp tục. Kết thúc phiên này, vàng giao ngay giảm 0,1% xuống mức 1.303,34 USD/ounce , tuy nhiên tính chung cả tuần giá vẫn tăng 0,9%, mức tăng lớn nhất kể từ tháng Ba. Trong phiên này có lúc giá chạm 1.307,80 USD/ounce, mức cao nhất trong 10 ngày; vàng giao sau cùng phiên giảm 70 cent, tương đương 0,1%, xuống 1.303,70 USD/ounce.
Phiên trước đó, giá vàng đã tăng trên 1.300 USD/ounce sau khi Trump cho biết cuộc họp với Triều Tiên sẽ không diễn ra. Nhà phân tích Carsten Menke của Julius Baer cho biết việc không chắc chắn trong cuộc họp Mỹ- Triều Tiên chỉ tác động tạm thời đối với vàng, truyền thống được sử dụng như một nơi đầu tư an toàn trong thời gian bất ổn.
USD đã lên mức cao mới từ đầu năm tới nay khi Triều Tiên cho biết sẽ cùng Mỹ giải quyết các vấn đề liên quan.
Cùng phiên, giá bạc giảm 0,6% xuống còn 16,53 USD/ounce, song tính chung cả tuần tăng 0,4%; bạch kim giảm 1,4% xuống còn 896 USD/ounce, nhưng tính chung cả tuần tăng 1,9%; palađi giảm 0,3% xuống còn 977,15 USD, nhưng cả tuần tăng 1,7%.
Chuyên gia Philip Newman thuộc công ty tư vấn đầu tư kim loại quý Metals Focus, giá vàng sẽ tiếp tục “chật vật” trong quý này và có thể cả quý tới. Tuy nhiên, với những lo ngại về các khoản nợ của nước Mỹ cũng như cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ vào tháng 11 tới, chuyên gia Philip Newman nhận định đồng USD vẫn có thể yếu đi và giá vàng sẽ phục hồi vào khoảng cuối năm nay.
Giám đốc nghiên cứu Mark O’Byrne của công ty GoldCore nhận định rằng, mức đóng cửa trên ngưỡng 1.300 USD/ounce cho thấy đợt bán tháo tồi tệ nhất của thị trường vàng đã qua. Bất chấp những rủi ro kỹ thuật trong ngắn hạn, triển vọng trung và dài hạn của thị trường vàng vẫn khá sáng. Rủi ro địa chính trị gia tăng có thể khiến nhu cầu tìm đến vàng như một nơi "trú ẩn an toàn" vẫn mạnh mẽ.
Kim loại công nghiệp: Chì có tuần tăng giá mạnh nhất 8 tháng
Giá chì giảm trong phiên cuối tuần do hoạt động bán kiếm lời, với hợp đồng giao sau 3 tháng trên sàn London giảm 2,2% xuống 2.438 USD/tấn, tuy nhiên tính chung cả tuần giá vẫn tăng 4,5%, mức tăng mạnh nhất kể từ tháng 9 năm ngoái do lượng dự trữ giảm mạnh.
Dự trữ tại các kho ngoại quan của sàn LME đã giảm 20.325 tấn tương đương 22% trong tuần này.
Giá thép tăng trong phiên cuối tuần do lo ngại nhu cầu giảm trong bối cảnh tồn kho thép giảm tại nước sản xuất vật liệu hàng đầu thế giới. Giá thép xây dựng tại Thượng Hải tăng 0,5% lên 3.565 NDT (558,14 USD)/tấn. Dự trữ thép xây dựng tại các thương nhân tuần này đã giảm 410.000 tấn xuống còn 5,66 triệu tấn vào ngày hôm qua, mức thấp nhất từ đầu tháng 2. Dự trữ các sản phẩm thép, bao gồm thép cây, thép cuộn, thép cuộn cán nóng, thép cuộn cán nguội và thép tấm, giảm 6,4% còn 11,33 triệu tấn.
Tuần qua, Ủy ban châu Âu đã mở cuộc điều tra về thép tấm cán nóng nhập khẩu từ Trung Quốc, đã gây áp lực lớn hơn đối với xuất khẩu thép của nước này sau khi Mỹ tuyên bố đánh thuế nặng vào thép Việt Nam có nguồn gốc từ Trung Quốc. Giá hợp đồng quặng sắt Đại Tây Dương giao tháng 9 đã giảm 0,7% xuống còn 454,5 NDT/tấn. Dự trữ quặng sắt tại các cảng Trung Quốc đã giảm 0,8% trong ba tuần qua, còn 158,98 triệu tấn vào thứ Sáu tuần trước, theo SteelHome.
Giá quặng sắt giao hàng vào cảng Thanh Đảo của Trung Quốc đã tăng 3,5% lên 66,38 USD.
Nông sản: Giá cà phê và đường tăng trong tuần
Phiên cuối tuần, giá cà phê arabica kỳ hạn tháng 7 giảm 0,65 cent, tương đương 0,54%, xuống 1.1990 USD/lb, do căng thẳng giảm bớt tại Brazil. Trong khi đó, giá cà phê robusta kỳ hạn tháng 7 tăng 3 USD, tương đương 0,2%, lên 1.758 USD/tấn. Tuy nhiên, tính chung cả tuần giá tăng. Ngân hàng Rabobank tăng nhẹ mức dự báo về dư thừa cà phê toàn cầu niên vụ 2018/19 trong ngày 25.05, nhưng cảnh báo rằng rủi ro thời tiết ở những nước trồng cà phê hàng đầu Brazil và Việt Nam có thể làm cho thị trường biến động mạnh. Đối với mặt hàng đường, trong phiên cuối tuần, Giá đường thô kỳ hạn tháng 7 giảm 0,12 cent, tương đương 1%, còn 12,26 cent/lb; đường trắng kỳ hạn tháng 8 giảm 3,80 USD, tương đương 1,1%, xuống còn 347,60 USD/tấn. Chính phủ Brazil đã ký một thỏa thuận với các tài xế xe tải, những người đang phản đối giá dầu diesel cao, làm giảm bớt lo ngại về gián đoạn vận chuyển hàng xuất khẩu. Mưa cũng được dự kiến sẽ làm giảm bớt khô hạn ở Brazil, đã giúp củng cố xu hướng giá. Các đại lý cho biết, hoạt động mua vào của quỹ dường như đang giảm dần và thị trường vẫn dễ ảnh hưởng bởi hoạt động bán của các nhà sản xuất.
Trong số các loại ngũ cốc, giá lúa mỳ trong phiên cuối tuần tăng hơn 3,5% do lo ngại thời tiết khô hạn ở các khu vực sản xuất chính trên thế giới giữ giá gần mức cao nhất trong 10 tháng. Giá lúa mì kỳ hạn tại sở giao dịch Chicago chốt phiên giao dịch tăng 1,4% đạt mức 5,37-1/2 USD/bushel. Tính trong cả tuần vừa qua, giá lúa mì tăng gần 3,8%, còn so với cách đây 2 tuần, giá tăng 6,5%. Các nhà phân tích cho biết giá đã được hỗ trợ bởi lo ngại vụ mùa của Mỹ sẽ phải chịu thời tiết khô hạn tiếp tục và các nhà xuất khẩu lớn khác cũng gặp khó khăn. Thời tiết khô hạn ở một số nước Canada, Australia và Nga - tất cả các nhà xuất khẩu lúa mì lớn - cũng sẽ khiến thị trường cân bằng hơn sau khi dự trữ cao kỷ lục trong mùa này.
Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá 19/5

Giá 26/5

26/5 so với 25/5

26/5 so với 25/5 (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

71,35

67,88

-2,83

-4,00%

Dầu Brent

USD/thùng

78,51

76,44

-2,35

-2,98%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

50.900,00

48.710,00

-1.490,00

-2,97%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,84

2,94

0,00

-0,03%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

223,19

218,14

-5,24

-2,35%

Dầu đốt

US cent/gallon

227,00

220,98

-5,69

-2,51%

Dầu khí

USD/tấn

697,00

675,50

-19,00

-2,74%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

68.150,00

66.130,00

-1.530,00

-2,26%

Vàng New York

USD/ounce

1.291,70

1.309,00

-0,80

-0,06%

Vàng Tokyo

JPY/g

4.592,00

4.573,00

-3,00

-0,07%

Bạc New York

USD/ounce

16,47

16,55

-0,14

-0,84%

Bạc TOCOM

JPY/g

58,40

58,40

+0,70

+1,21%

Bạch kim

USD/ounce

887,31

901,10

-9,36

-1,03%

Palladium

USD/ounce

967,63

981,35

+5,05

+0,52%

Đồng New York

US cent/lb

306,15

307,75

-1,85

-0,60%

Đồng LME

USD/tấn

6.855,00

6.885,00

+5,00

+0,07%

Nhôm LME

USD/tấn

2.270,00

2.263,00

-18,00

-0,79%

Kẽm LME

USD/tấn

3.099,50

3.051,00

+17,00

+0,56%

Thiếc LME

USD/tấn

20.780,00

20.150,00

-275,00

-1,35%

Ngô

US cent/bushel

402,50

406,00

+1,75

+0,43%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

518,25

543,00

+12,75

+2,40%

Lúa mạch

US cent/bushel

242,00

248,75

+4,75

+1,95%

Gạo thô

USD/cwt

12,33

11,57

+0,01

+0,04%

Đậu tương

US cent/bushel

998,50

1.041,50

+5,75

+0,56%

Khô đậu tương

USD/tấn

376,30

380,30

+3,00

+0,80%

Dầu đậu tương

US cent/lb

30,98

31,34

-0,37

-1,17%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

532,40

538,10

-0,90

-0,17%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.678,00

2.556,00

-47,00

-1,81%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

118,00

120,40

-0,15

-0,12%

Đường thô

US cent/lb

11,66

12,46

+0,08

+0,65%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

166,20

169,30

+0,90

+0,53%

Bông

US cent/lb

86,55

86,65

+1,10

+1,29%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

624,00

599,30

+10,00

+1,70%

Cao su TOCOM

JPY/kg

194,20

192,70

-1,00

-0,52%

Ethanol CME

USD/gallon

1,48

1,52

+0,00

+0,13%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg