Năng lượng: Dầu thô giảm
Giá dầu thô tiếp tục tăng trong phiên cuối tuần bởi lo ngại các lệnh trừng phạt của Mỹ nhằm vào Iran có thể làm nguồn cung toàn cầu bị thắt chặt. Kết thúc phiên, dầu Brent giao dịch kỳ hạn tăng 0,73 USD (1%) lên 77,62 USD/thùng, còn giá dầu ngọt nhẹ (WTI) tăng 0,26 USD (0,4%) lên 67,59 USD/thùng.
Tuy nhiên, tính chung cả tuần, giá vẫn giảm vì lo ngại cuộc chiến thương mại làm giảm nhu cầu dầu mỏ thế giới và chứng khoán toàn cầu tuần qua nhiều phiên giảm mạnh. Dầu Brent giảm 2,7% trong tuần qua, trong khi dầu WTI giảm 2,3%.
Các lệnh trừng phạt của Mỹ đối với lĩnh vực dầu mỏ của Iran sẽ bắt đầu có hiệu lực vào ngày 4/11 tới và giới phân tích ước tính rằng thị trường “vàng đen” có nguy cơ mất đi nguồn cung lên đến 1,5 triệu thùng/ngày. Washington tuyên bố muốn giảm xuất khẩu dầu của Iran về số 0. Mặc dù điều đó chưa chắc chắn song một số người mua, bao gồm cả những khách hàng lớn nhất của Iran như Trung Quốc, có vẻ đang giảm nhập dầu Iran buộc Tehran phải lưu kho lại những thùng dầu chưa bán được.
Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) hồi tháng 6/2018 đã nhất trí tăng nguồn cung để bù đắp cho khả năng hoạt động xuất khẩu dầu của Iran bị gián đoạn. Nhưng một số nguồn tin nội bộ cho thấy OPEC đang gặp khó khăn trong việc nâng sản lượng thêm nữa khi mà không chỉ sản lượng của Iran mà cả Venezuela cũng sụt giảm.
Tuy nhiên, theo một quan chức của Saudi Arabia, thị trường dầu mỏ thế giới có thể phải đối mặt với tình trạng dư thừa nguồn cung trong quý 4/2018, giữa bối cảnh các thị trường tài chính đang gặp khó bởi nhiều mối lo như cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung, sự bất ổn của các thị trường tiền tệ mới nổi, lãi suất cho vay và lợi suất trái phiếu tăng, cùng với những vấn đề ngân sách của Italia. OPEC dự đoán nhu cầu đối với dầu thô của khối này sẽ giảm từ mức trung bình 32,8 triệu thùng/ngày trong năm nay xuống còn 31,8 triệu thùng/ngày vào năm tới.
Giá khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) tại châu Á tuần này giảm xuống mức thấp nhất trong vòng hơn 2 tháng do nguồn cung tăng trong khi nhu cầu chậm lại, nhất là ở Nhật Bản, nơi mùa Đông dự kiến sẽ ấm hơn thông lệ và các nhà máy điện nguyên tử hoạt động trở lại.
LNG giao tháng 12 tới giảm xuống 10,20 USD/triệu mBtu, thấp nhất kể từ 10/8/2018. Chênh lệch giá giữa hợp đồng giao tháng 12 năm nay và tháng 1 năm tới vào khoảng 1 USD mỗi triệu mBtu.
Giá than tại Trung Quốc tiếp tục tăng mạnh. Phiên vừa qua, than cốc lên mức cao nhất 13 tháng do dự báo sẽ thiếu cung bởi sự kiểm soát an toàn ở các mỏ than và nhu cầu mạnh từ các nhà máy thép. Lúc mở cửa giao dịch, giá hợp đồng giao dịch nhiều nhất đạt 1.433 CNY (205,97 USD)/tấn, đóng cửa giá vẫn tăng 1,1% so với phiên trước, đạt 1.409 CNY.
Cơ quan giám sát an toàn mỏ than Trung Quốc cho biết sẽ kiểm tra tất cả các mỏ trên toàn quốc kể từ cuối tháng 10 năm nay đến cuối tháng 6 năm 2019 để cải thiện điều kiện an toàn mỏ than. Cho đến thời điểm hiện tại, 41 mỏ ở tỉnh Sơn Đông đã được yêu cầu tạm dừng khai thác để phục vụ việc kiểm tra.
Kim loại quý: Giá vàng tăng tuần thứ 4 liên tiếp
Phiên cuối tuần, giá vàng tăng do giới đầu tư mua mạnh. Vàng giao ngay tăng 0,2% lên 1.234,35 USD/ounce, vàng giao sau tăng 3,4 USD tương đương 0,28% lên 1.235,80 USD/ounce. Giá vàng đã hồi phục hơn 6% kể từ khi chạm mức 1.159,96 USD/ounce hồi giữa tháng 8/2018 (thấp nhất kể từ tháng 1/2017).
Ross Strachan, chuyên gia phân tích tại Capital Economics, cho rằng thị trường đang chứng kiến nhiều diễn biến liên quan đến Saudi Arabia và Nga, cùng với tình hình căng thẳng thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc. Những yếu tố trên tác động tiêu cực đến các chỉ số chứng khoán do đó hỗ trợ cho giá vàng.
Thị trường chứng khoán toàn cầu lao dốc đã khiến các nhà đầu tư trở lại với vàng để tìm kiếm sự an toàn, giúp kim loại quý này tăng tuần thứ 4 liên tiếp, dài nhất kể từ tháng 1/2018.
Chứng khoán toàn cầu tuần qua mất điểm nhiều nhất trong vòng hơn 5 năm do cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung, Mỹ nâng tỷ lệ lãi suất và lo ngại về kinh tế của Italia. Đã có những dấu hiệu cho thấy thương mại toàn cầu chậm lại, như cước phí vận chuyển container và hàng rời đều giảm. Nhiều nhà quan sát cảnh báo xu hướng biến động nhiều khả năng vẫn tiếp diễn.
Edward Meir, chuyên gia phân tích tại INTL FC Stone cho rằng cần dõi theo biến động của các thị trường chứng khoán để nhận định về giá vàng. Nếu chứng khoán tiếp tục giảm điểm như hiện thời thì giá vàng sẽ đi lên. Trong khi đó, một số nhà phân tích cho rằng triển vọng giá vàng không mấy sáng sủa. Fawad Razaqzada, nhà phân tích tại Forex.com, cho rằng với các nền tảng còn yếu ớt, giá vàng có khả năng đi xuống trong thời gian tới.
Kim loại cơ bản: Giá hầu hết giảm
Giá đồng giảm 1% trong phiên vừa qua khi chứng khoán toàn cầu sụt giảm, mặc dù thị trường kim loại này đang thiếu cung.
Đồng giao sau 3 tháng trên sàn London kết thúc phiên ở 6.160 USD/tấn, giảm 1,1% so với phiên trước và là tuần giảm giá thứ 4 trong vòng 5 tuần qua.
Nhà đầu tư tháo chạy khỏi những tài sản rủi ro như kim loại khi chứng khoán toàn cầu đang trong giai đoạn "hoảng loạn". Điều này làm lu mờ ảnh hưởng của việc lượng đồng lưu kho tại London đã giảm xuống mức thấp nhất trong vòng gần 13 năm.
Giá nhôm cũng vừa giảm xuống mức thấp nhất trong vòng hơn 1 năm, trong khi nickel thấp nhất kể từ cuối tháng 12 năm ngoái. Số liệu GDP Mỹ cao hơn dự kiến không đủ để làm dịu lại sự căng thẳng nơi các nhà đầu tư.
Nickel có lúc xuống thấp nhất kể từ tháng 12/2017 là 11.810 và kết thúc phiên cuối tuần ở mức giảm 2,1% xuống 11.900 USD/tấn; nhôm cũng có lúc thấp nhất kể từ tháng 8/2017 là 1.975 USD/tấn nhưng kết thúc phiên nhích nhẹ 0,2% lên 1.998 USD/tấn
Nông sản: Giá cà phê và đường giảm
Giá cà phê arabica giao tháng 12/2018 trong phiên cuối tuần giảm 1,5 US cent tương đương 1,24% xuống 1,1965 USD/lb, tính chung cả tuần giá giảm 1,9%, tuần giảm đầu tiên trong vòng 6 tuần. Robusta giao tháng 1 năm sau tăng 23 USD tương đương 1,4% lên 1.730 USD/tấn.
Giá đường giảm trong phiên cuối tuần do hoạt động bán kiếm lời. Đường thô giao tháng 3 năm sau giảm 0,13 US cent tương đương 0,9% xuống 13,84 US cent/lb, tính chung cả tuần giảm 0,4%, là tuần giảm đầu tiên trong vòng 4 tuần mặc dù ngày 24/10 vừa qua có lúc lập đỉnh cao 9,5 tháng. Đường trắng giao tháng 12/2018 giảm 8,5 USD tương đương 2,2% xuống 372,9 USD/tấn. Bazil – nước sản xuất đường lớn nhất thế giới – sắp bầu cử nên đồng nội tệ mạnh lên và cản trở việc xuất khẩu đường của nước này. Đồng real đã tăng liên tiếp trong vài tuần qua.
Giá cao su tại Tokyo hồi phục từ mức thấp nhất 2 năm của phiên liền trước khi các nhà đầu tư mua vào trước kỳ nghỉ cuối tuần. Hợp đồng giao tháng 4 năm sau trên sàn Tokyo tăng 0,3 JPY lên 166,3 JPY (1,5 USD)/kg vào cuối phiên, nhưng tính chung cả tuần vẫn giảm tuần thứ 3 liên tiếp. Hợp đồng tháng 10 tại Tokyo đáo hạn ở mức giá 144,4 JPYkg. Cao su giao tháng 1 năm sau trên sàn Thượng Hải cũng tăng 60 CNY lên 11.835 CNY (1.705 USD)tấn.
Giá bông trên sàn New York kỳ hạn giao tháng 12/2018 tăng 0,91 US cent tương đương 1,17% lên 789,5 US cent/lb trong bối cảnh USD trượt giá và mưa ở miền Nam nước Mỹ gây lo ngại ảnh hưởng đến sản lượng, mặc dù dự báo nhu cầu cũng yếu do cuộc xung đột thương mại Mỹ - Trung. Tính chung cả tuần, bông tăng 0,8%. Số liệu thống kê của Mỹ cho thấy nhập khẩu bông của Trung Quốc đang giảm nhanh.
Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá 20/10

Giá 27/10

27/10 so với 26/10

27/10 so với 26/10 (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

69,12

67,59

+0,26

+0,39%

Dầu Brent

USD/thùng

79,78

77,62

+0,73

+0,95%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

53.580,00

52.250,00

+750,00

+1,46%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

3,25

3,19

-0,02

-0,53%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

191,39

181,50

+0,21

+0,12%

Dầu đốt

US cent/gallon

230,20

230,30

+2,49

+1,09%

Dầu khí

USD/tấn

710,00

704,25

+5,00

+0,72%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

69.910,00

68.050,00

+650,00

+0,96%

Vàng New York

USD/ounce

1.228,70

1.235,80

+3,40

+0,28%

Vàng Tokyo

JPY/g

4.425,00

4.424,00

-9,00

-0,20%

Bạc New York

USD/ounce

14,65

14,70

+0,07

+0,48%

Bạc TOCOM

JPY/g

52,80

52,70

+0,20

+0,38%

Bạch kim

USD/ounce

830,94

832,71

+5,27

+0,64%

Palladium

USD/ounce

1.082,93

1.105,69

+1,46

+0,13%

Đồng New York

US cent/lb

277,80

274,10

-1,35

-0,49%

Đồng LME

USD/tấn

6.220,00

6.160,00

-66,00

-1,06%

Nhôm LME

USD/tấn

2.003,00

1.998,00

+4,00

+0,20%

Kẽm LME

USD/tấn

2.626,00

2.651,00

+14,00

+0,53%

Thiếc LME

USD/tấn

19.170,00

19.300,00

-25,00

-0,13%

Ngô

US cent/bushel

367,00

367,75

+6,75

+1,87%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

514,75

505,25

+18,00

+3,69%

Lúa mạch

US cent/bushel

295,25

292,00

+6,25

+2,19%

Gạo thô

USD/cwt

11,23

10,93

-0,05

-0,46%

Đậu tương

US cent/bushel

856,75

857,75

+3,25

+0,38%

Khô đậu tương

USD/tấn

313,10

307,30

+3,00

+0,99%

Dầu đậu tương

US cent/lb

29,14

28,16

-0,23

-0,81%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

502,50

491,50

+0,40

+0,08%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.162,00

2.251,00

+42,00

+1,90%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

122,10

119,65

-1,50

-1,24%

Đường thô

US cent/lb

13,89

13,84

-0,13

-0,93%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

139,80

138,05

-1,10

-0,79%

Bông

US cent/lb

77,92

78,53

+0,85

+1,09%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

328,50

306,80

+1,10

+0,36%

Cao su TOCOM

JPY/kg

166,50

164,00

-0,90

-0,55%

Ethanol CME

USD/gallon

1,28

1,29

+0,02

+1,25%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg