Trên thị trường năng lượng, giá dầu phiên cuối tuần tiếp tục tăng sau khi giới đầu tư phản ứng với bình luận của Chủ tịch Fed và báo cáo về vụ bắn tên lửa tại Arab Saudi.
Kết thúc phiên giao dịch cuố tuần, giá dầu thô ngọt nhẹ (WTI) kỳ hạn giao tháng 10/2016 trên sàn New York tăng 31 cent, tương ứng 0,7%, lên 47,64 USD/thùng. Tuy nhiên, cả tuần giá vẫn giảm 3% do giảm mạnh trong những phiên đầu tuần. Giá dầu Brent giao tháng 10/2016 trên sàn London cũng tăng 25 cent trong phiên cuối tuần, tương đương 0,5%, lên 49,92 USD/thùng, và cũng giảm 1,9% trong cả tuần.
Chủ tịch Fed Janet Yellen, trong bài phát biểu tại cuộc họp thường niên các ngân hàng trung ương ở Jackson Hole, Wyoming, ngày thứ Sáu 26/8, đã phát tín hiệu rằng ngân hàng trung ương Mỹ có thể nâng lãi suất trong vài tuần hoặc vài tháng tới.
Việc tên lửa của Yemen bắn vào các cơ sở của Arab Saudi góp phần đẩy giá tăng lên. Truyền hình Arab Saudi đưa tin tên lửa được phóng từ Yemen đã bắn trúng trạm điện ở Najran, phía nam Arab Saudi.
Tuần qua giá dầu liên tục biến động mạnh khi giới đầu tư cân nhắc mối lo ngại rằng thị trường toàn cầu vẫn tiếp tục thừa cùng với những dấu hiệu mới cho thấy OPEC có thể đạt được thỏa thuận đóng băng sản lượng vào tháng 9 tới. Lượng dầu và sản phẩm lọc dầu lưu kho thương mại của Mỹ tăng lên mức kỷ lục, dấu hiệu cho thấy thừa cung toàn cầu vẫn tiếp tục. Tuy nhiên, thông tin về việc Iran có thể tham gia các cuộc thảo luận về đóng băng sản lượng vào tháng tới đã giúp giới đầu tư lạc quan hơn.

Ngày 26/8, Baker Hughes cho biết, số giàn khoan của Mỹ trong tuần kết thúc vào 26/8 không đổi. Số giàn khoan của Mỹ đã tăng 8 tuần qua khi đà tăng của giá dầu thời gian qua đã khuyến khích các nhà sản xuất đầu tư vào hoạt động sản xuất mới, dấy lên lo ngại tình trạng thừa cung toàn cầu sẽ còn kéo dài dai dẳng và kéo giảm giá.

Bank of America Merrill Lynch ngày 26/8 cho biết vẫn giữ nguyên dự báo giá dầu Brent ở 61 USD/thùng trong năm 2017 và lưu ý rằng đà tăng của USD có thể khiến giá dầu xuống thấp hơn so với dự báo của ngân hàng.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng đảo chiều tăng trong phiên cuối tuần bởi bài phát biểu của Chủ tịch Fed làm dấy lên đồn đoán Fed có thể nâng lãi suất ngay trong tháng 9.
Giá vàng giao ngay tăng 1,5% lên 1.341,60 USD/ounce
Giá vàng giao ngay tăng 0,02% lên 1.321,52 USD/ounce. Cả tuần giá giảm 1,5% sau 2 tuần tăng liên tiếp. Giá vàng giao tháng 12/2016 trên sàn Comex (New York) tăng 0,1% lên 1.325,90 USD/ounce.
Chỉ số USD giảm 0,6% sau bài phát biểu của Chủ tịch Fed, nhưng sau đó, đà tăng của giá vàng chững lại trong khi USD hồi phục 0,7% khi Phó chủ tịch Fed Stanley Fischer cho biết, việc nâng lãi suất vẫn đi đúng quỹ đạo trong năm nay.
Chủ tịch Fed Yellen đã chỉ ra những tiến bộ trong thị trường lao động của Mỹ và kỳ vọng kinh tế tăng trưởng với tốc độ trung bình, củng cố quan điểm cho rằng Fed có thể nâng lãi suất vào cuối năm nay. Tuy nhiên, bà Yellen không đưa ra lộ trình rõ ràng về những gì Fed cần theo dõi để nâng lãi suất.
Trong số các kim loại quý khác, giá bạc giao ngay tăng 0,6% lên 18,60 USD/ounce, giá bạch kim tăng 0,01% lên 1.068,4 USD/ounce trong khi giá palladium giảm 0,1% xuống 683,3 USD/ounce.
Trên thị trường kim loại cơ bản, giá kẽm vọt lên mức cao kỷ lục 15 tháng do hoạt động tranh mua, mặc dù nhiều người nghi ngờ xu hướng tăng khó kéo dài. Trên sàn London, giá kẽm đạt 2.333 USD/tấn, mức cao nhất kể từ tháng 5/2015.
Những kim loại cơ bản khác diễn biến không đồng nhất. Trong khi giá đồng giảm xuống mức thấp nhất kể từ 24/6, là 4.620 USD/tấn, thì giá chì lại tăng lên mức cao nhất kể từ tháng 2/2015, là 1.875 USD/tấn. Nickel vừa trải qua tuần giảm giá mạnh nhất kể từ tháng 3, với mức giảm khoảng 5%, do nhu cầu nhập khẩu yếu từ phía Trung Quốc.
Trên thị trường nông sản, lúa mì giảm giá xuống mức thấp nhất trong vòng một thập kỷ vào phiên cuói tuần qua do nguồn cung dồi dào và áp lực bán ra. Ngô cũng giảm giá phiên thứ 4 liên tiếp, và đậu tương quay đầu giảm sau 4 phiên tăng trước đó.
Tính chung cả tuần qua, lúa mì mất 8,4% giá trị, mức giảm mạnh nhất trong vòng 2 năm.
Uỷ ban Ngũ cốc Thế giới vừa nâng dự báo về sản lượng lúa mì năm 2016/17 lên mức cao kỷ lục.
Với những nông sản khác, cacao tăng lên mức giá cao nhất 3 tháng rưỡi, đường thô giá cao nhất 7 tuần, trong khi bông xuống thấp nhất 6 tuần.
Cà phê đồng loạt tăng trong phiên cuối tuần, Tại London, Robusta tăng 17-22 USD/tấn, chấm dứt mạch giảm 3 phiên liên tiếp, trong khi đó tại New York, Arabica tăng 0,4 US cent/lb.
Nhà phân tích Brazil Safras & Mercado - từng ước tính sản lượng cà phê của Brazil đạt 54,9 triệu bao - cho biết, tính đến thứ Ba 23/8, nông dân Brazil đã thu hoạch được 91% diện tích cà phê.
Theo Ủy ban Cà phê Ấn Độ, xuất khẩu cà phê của nước này trong 7 tháng đầu năm 2016 đạt 3.364.300 bao, tăng 422.267 bao, hay 14,35%, so với cùng kỳ năm ngoái, chủ yếu do giá cà phê tham chiếu trên thị trường quốc tế được cải thiện trong những tháng gần đây.

Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá 20/8

Giá 27/8

Giá 27/8 so với 26/8

Giá 27/8 so với 26/8 (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

48,57

47,64

+0,31

+0,65%

Dầu Brent

USD/thùng

50,88

49,92

+0,25

+0,50%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

30.490,00

30.310,00

+560,00

+1,88%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,58

2,87

+0,03

+0,88%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

151,29

151,28

+0,14

+0,09%

Dầu đốt

US cent/gallon

151,58

149,72

-1,22

-0,81%

Dầu khí

USD/tấn

441,50

442,75

+1,25

+0,28%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

43.040,00

41.510,00

+740,00

+1,82%

Vàng New York

USD/ounce

1.346,20

1.325,90

+1,30

+0,10%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.313,00

4.307,00

+45,00

+1,06%

Bạc New York

USD/ounce

19,31

18,72

-0,02

-0,13%

Bạc TOCOM

JPY/g

62,00

60,80

+1,00

+1,67%

Bạch kim giao ngay

USD/t oz.

1.114,30

1.073,80

+0,30

+0,03%

Palladium giao ngay

USD/t oz.

711,50

689,12

-0,38

-0,06%

Đồng New York

US cent/lb

217,75

208,45

+0,15

+0,07%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

4.798,00

4.615,00

-11,00

-0,24%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

1.667,00

1.642,50

-2,00

-0,12%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

2.286,00

2.314,50

+16,50

+0,72%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

18.540,00

18.890,00

+140,00

+0,75%

Ngô

US cent/bushel

343,75

325,00

-7,00

-2,11%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

444,75

407,50

-16,25

-3,83%

Lúa mạch

US cent/bushel

184,50

185,25

-3,75

-1,98%

Gạo thô

USD/cwt

10,31

9,93

+0,03

+0,25%

Đậu tương

US cent/bushel

1.004,50

967,25

-8,25

-0,85%

Khô đậu tương

USD/tấn

325,50

315,50

-3,30

-1,04%

Dầu đậu tương

US cent/lb

34,56

33,35

+0,03

+0,09%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

469,20

459,70

+0,10

+0,02%

Cacao Mỹ

USD/tấn

3.099,00

3.015,00

-13,00

-0,43%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

141,60

144,85

+0,40

+0,28%

Đường thô

US cent/lb

19,77

20,61

+0,06

+0,29%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

180,20

185,65

+0,40

+0,22%

Bông

US cent/lb

68,03

68,03

-0,01

-0,01%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

322,30

329,70

-5,70

-1,70%

Cao su TOCOM

JPY/kg

157,00

152,60

+2,00

+1,33%

Ethanol CME

USD/gallon

1,47

1,43

-0,01

-0,56%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg