Năng lượng: Giá dầu giảm
Phiên giao dịch cuối tuần, giá dầu thô ngọt nhẹ (WTI) trên sàn New York tăng 26 US cent (0,4%) lên 61,25 USD/thùng; dầu Brent Biển Bắc trên sàn London tăng 54 US cent (0,9%), lên 64,37 USD/thùng.
Chỉ số USD – thước đo giá trị của đồng USD so với giỏ các đồng tiền chủ chốt khác – lùi 0,4% trong phiên này. Đồng USD thấp có thể giúp giá dầu trở nên rẻ hơn đối với các nhà đầu tư đang nắm giữ những đồng tiền khác.
Bên cạnh đó, thị trường chứng khoán đảo chiều tăng cũng hỗ trợ giá dầu tăng.
Tuy nhiên, tính chung cả tuần qua, giá dầu WTI giảm hơn 3%, còn giá dầu Brent mất khoảng 4%. Lý do bởi giới đầu tư lo ngại rằng kế hoạch thuế quan mới của Mỹ (đối với thép và nhôm nhập khẩu) có thể chặn lại đà tăng trưởng kinh tế nước này.
Thị trường dầu đang chịu áp lực từ nhiều yếu tố. Nhu cầu mạnh từ Mỹ cũng như cam kết của Saudi Arabia về việc tiếp tục duy trì chính sách cắt giảm sản lượng trong khuôn khổ của những nỗ lực hạn chế nguồn cung của Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) đã giúp giá dầu thế giới chạm mức cao nhất của ba tuần trong phiên giao dịch đầu tuần ngày 26/2.
Tuy nhiên, sau đó giá liên tục giảm trong ba phiên tiếp theo, phiên 1/3 xuống mức thấp nhất 2 tuần do USD mạnh lên, chứng khoán Mỹ giảm điểm sau thông báo nâng thuế nhập khẩu đối với các mặt hàng thép và nhôm của Tổng thống Donald Trump; và thông tin kho dự trữ dầu thô và xăng của Mỹ đang có xu hướng đầy lên, cùng với đó là sản lượng dầu tăng tại nền kinh tế lớn nhất thế giới. Đây là những nhân tố cản trở nỗ lực thắt chặt nguồn cung của OPEC.
Thống kê từ Bộ Năng lượng Mỹ cho thấy, trong tuần kết thúc vào ngày 23/2, dự trữ dầu thô của Mỹ tăng 3 triệu thùng, cao hơn so với dự kiến tăng 2,1 triệu thùng của các nhà phân tích đưa ra trước đó. Ngoài ra, Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) cũng điều chỉnh sản lượng dầu thô trong tháng 11/2017 lên mức kỷ lục 10,057 triệu thùng/ngày, càng tạo sức ép giảm lên giá dầu.
Báo cáo hàng tuần của công ty dịch vụ dầu khí Baker Hughes cũng cho hay, số giàn khoan dầu đang hoạt động tại Mỹ chỉ tăng 1 giàn lên 800 giàn trong tuần này.
Phân tích đồ thị: Giá dầu Brent sẽ tăng lên 65,55 USD/thùng

Phân tích đồ thị: Giá dầu Brent sẽ tăng lên 61,93 USD/thùng

Kim loại quý: Giá vàng giảm tuần thứ 2 liên tiếp

Phiên giao dịch cuối tuần, giá vàng giao ngay tăng 0,5% lên 1.322,54 USD/ounce, vàng giao tháng 4/2018 tăng 18,20 USD (1,4%), lên 1.323,4 USD/ounce.
Lo ngại về nguy cơ xảy ra một cuộc chiến thương mại trên quy mô toàn cầu sau tuyên bố áp thuế nhập khẩu cao hơn đối với thép và nhôm của Tổng thống Mỹ Donald Trump đã khiến đồng USD suy yếu vào cuối tuần, và tạo động lực đẩy giá vàng đi lên.
Tổng thống Mỹ Donald Trump thông báo sẽ áp mức thuế nhập khẩu mới đối với nhôm và thép, cụ thể là 25% đối với sản phẩm thép và 10% đối với nhôm. Động thái này được cho là một bước đi mới trong nỗ lực thúc đẩy chính sách bảo hộ của Tổng thống D.Trump, đồng thời ẩn chứa nguy cơ châm ngòi cho cuộc chiến thương mại trên toàn cầu. Điều này khiến đồng USD mất giá và giúp vàng hưởng lợi. Ngoài ra, một cuộc chiến tranh thương mại có thể đẩy lạm phát leo cao còn tăng trưởng kinh tế lùi bước, qua đó làm gián đoạn các kế hoạch lãi suất của Fed.
Dù vậy, diễn biến mờ nhạt từ đầu tuần vẫn khiến thị trường vàng ghi nhận tuần giảm giá thứ hai liên tiếp. Tính chung cả tuần qua, giá vàng giảm 0,5%, đánh dấu tuần giảm thứ hai liên tiếp.
Cũng phiên cuối tuần, giá bạc tăng 0,2%, lên 16,49 USD/ounce, đi ngang so với tuần trước đó; giá palađi tăng 0,5%, lên 993,80 USD/ounce, song lại giảm 5% khi tính chung cả tuần; giá bạch kim lùi 0,2% ở phiên cuối tuần, xuống 963,90 USD/ounce, ghi dấu mức giảm 3,2% trong tuần qua.
Thị trường đã trải qua một tuần diễn biến thất thường với biên độ dao động hẹp, nhất là sau khi tân Chủ tịch Fed Jerome Powell trong buổi điều trần đầu tiên trước Quốc hội Mỹ khẳng định lộ trình tăng lãi suất sẽ được tiếp tục.
Đáng chú ý, trong phiên giao dịch ngày 1/3, giá vàng có thời điểm rơi xuống mức thấp nhất kể từ ngày 2/1, do những đồn đoán về các đợt nâng lãi suất của Mỹ. Giá vàng luôn nhạy cảm với các động thái điều chỉnh lãi suất của Mỹ, bởi lãi suất tăng sẽ giúp đồng USD mạnh lên song lại khiến sức hấp dẫn của các tài sản không sinh lời như vàng giảm đáng kể.
Nông sản: Giá chịu áp lực đi xuống
Phiên cuối tuần, giá đường thô giao tháng 5 giảm 0,29 US cent tương đương 2,1% xuống 13,42 US cent/lb, đường trắng giao cùng kỳ hạn giảm 5,3 USD tương đương 1,4% xuống 363,20 USD/tấn.
Nguồn cung đường toàn cầu vẫn dồi dào mặc dù Brazil dự kiến sẽ tăng cường sử dụng mía để sản xuất ethanol hơn là đường.
Cà phê cũng giảm giá trong phiên cuối tuần, với robusta giao tháng 5 giảm 17 USD tương đương 1% xuống 1.751 USD/tấn, trong khi arabica giao cùng kỳ hạn giảm 1,75 US cent tương đương 1,4% xuống 1,222 USD/lb.
Xuất khẩu mạnh từ Việt Nam đang gây áp lực giảm giá robusta.
Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

24/2

3/3

3/3 so với 2/3

3/3 so với 2/3 (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

63,55

61,25

+0,26

+0,43%

Dầu Brent

USD/thùng

67,31

64,37

+0,54

+0,85%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

41.840,00

39.270,00

+250,00

+0,64%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,63

2,70

0,00

-0,11%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

180,85

190,14

+0,50

+0,26%

Dầu đốt

US cent/gallon

196,94

187,96

-0,59

-0,31%

Dầu khí

USD/tấn

592,25

565,00

+1,75

+0,31%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

56.350,00

55.100,00

+300,00

+0,55%

Vàng New York

USD/ounce

1.330,30

1.323,40

+18,20

+1,39%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.556,00

4.482,00

+8,00

+0,18%

Bạc New York

USD/ounce

16,55

16,47

+0,19

+1,17%

Bạc TOCOM

JPY/g

56,90

56,00

+0,10

+0,18%

Bạch kim giao ngay

USD/t oz.

996,75

966,14

-0,30

-0,03%

Palladium giao ngay

USD/t oz.

1.048,74

994,07

+2,89

+0,29%

Đồng New York

US cent/lb

323,30

312,45

+0,15

+0,05%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

7.095,00

6.898,00

-24,00

-0,35%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

2.140,00

2.149,00

+2,00

+0,09%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

3.503,00

3.355,00

-52,00

-1,53%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

21.650,00

21.475,00

-180,00

-0,83%

Ngô

US cent/bushel

374,50

385,25

-1,00

-0,26%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

464,25

500,00

-15,50

-3,01%

Lúa mạch

US cent/bushel

263,50

268,50

-5,00

-1,83%

Gạo thô

USD/cwt

12,20

12,47

-0,04

-0,28%

Đậu tương

US cent/bushel

1.047,50

1.071,00

+3,00

+0,28%

Khô đậu tương

USD/tấn

378,30

392,90

-4,30

-1,08%

Dầu đậu tương

US cent/lb

32,56

32,30

-0,09

-0,28%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

516,30

527,10

+1,90

+0,36%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.194,00

2.313,00

+63,00

+2,80%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

121,00

122,20

-1,75

-1,41%

Đường thô

US cent/lb

13,46

13,42

-0,29

-2,12%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

145,30

138,60

-2,60

-1,84%

Bông

US cent/lb

81,34

82,09

+0,28

+0,34%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

515,40

483,80

-7,90

-1,61%

Cao su TOCOM

JPY/kg

190,00

190,00

-1,50

-0,78%

Ethanol CME

USD/gallon

1,48

1,47

-0,02

-1,41%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg