Năng lượng: Dầu thô tăng giá
Phiên cuối tuần, giá dầu biến động nhẹ, loại Brent kỳ hạn giao tháng 12/2018 giảm 42 US cent xuống 84,16 USD/thùng, trong khi loại ngọt nhẹ (WTI) tăng 1 US cent lên 74,34 USD/thùng.
Tính chung cả tuần, giá dầu WTI tăng 1,3% và giá dầu Brent tăng khoảng 1,4%.
Giá “vàng đen” đang trên đà tăng trong thời gian qua khi thị trường chuẩn bị ứng phó với các lệnh trừng phạt của Mỹ đối với Iran.
Phiên 1/10/2018, dầu đạt mức cao nhất kể từ tháng 11/2014 khi thời hạn Mỹ trừng phạt Iran (4/11/2018) đến gần và đàm phán sửa đổi Hiệp định Thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA) tiến triển tích cực. Theo ông Phil Flynn, chuyên gia phân tích từ Price Futures Group tại Chicago, thỏa thuận mới (Hiệp định Mỹ - Canada - Mexico (USMCA) sẽ giúp hỗ trợ giá dầu bởi hiệp định góp phần cải thiện triển vọng tăng trưởng không chỉ cho kinh tế Mỹ và Canada, mà còn cả khu vực Bắc Mỹ nói chung.
Trong khi đó, khảo sát về sản lượng dầu của hãng tin Reuters cho thấy sản lượng dầu của Iran trong tháng Chín đã giảm khoảng 100.000 thùng/ngày, trong khi tổng sản lượng từ OPEC tăng khoảng 90.000 thùng/ngày từ tháng Tám.
Trong báo cáo triển vọng Kinh tế toàn cầu quý 4/2018, ngân hàng HSBC cho biết các chuyên gia phụ trách lĩnh vực dầu mỏ của ngân hàng dự báo giá “vàng đen” có thể chạm mức 100 USD/thùng.
Tuy nhiên, các chuyên gia lưu ý đà tăng của giá dầu vẫn bị giới hạn trước thông tin sản lượng gia tăng từ một số nhà sản xuất. Bộ trưởng Năng lượng Saudi Arabia Khalid al-Falih ngày 4/10/2018 cho biết Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) có thể tăng sản lượng thêm 1,3 triệu thùng/ngày.
Kim loại quý: Vàng tăng khá mạnh
Phiên cuối tuần, giá vàng tăng khi USD yếu đi khi số liệu cho thấy tăng trưởng việc làm tại Mỹ chậm hơn dự kiến trong tháng trước. Kết thúc phiên, vàng
Chốt phiên này, giá vàng giao ngay tăng 0,2% lên 1.201,82 USD/ounce, tính chung cả tuần tăng 0,9% và đánh dấu tuần tăng mạnh nhất trong 6 tuần; vàng giao sau tăng 4 USD tương đương 0,3% lên 1.205,6 USD/ounce.
Đồng USD suy yếu sau báo cáo cho thấy số việc làm trong lĩnh vực phi nông nghiệp trong tháng 9/2018 của Mỹ tăng 134.000, thấp nhất trong một năm.
Tháng Chín vừa qua chứng kiến tháng giảm giá thứ sáu liên tiếp của vàng, chuỗi đi xuống dài nhất kể từ tháng 1/1997, chủ yếu do đồng USD mạnh lên cùng các số liệu lạc quan của kinh tế Mỹ và quan ngại về nguy cơ cuộc chiến thương mại toàn cầu xảy ra. Đồng USD mạnh lên sẽ gây bất lợi cho các tài sản được định giá bằng đồng bạc xanh như vàng. Nhà đầu tư tích cực mua đồng USD và trái phiếu chính phủ của Mỹ thay vì vàng như một trong các tài sản an toàn, nhất là sau khi Chủ tịch Fed Jerome Powell tuần trước đã đề cập tới việc tiếp tục theo đuổi chính sách nâng lãi suất từ từ, điều báo hiệu khả năng đồng USD sẽ mạnh lên trong tương lai.
Nhà phân tích Nicholas Cawlay tại DailyFX.com nhận định nền kinh tế Mỹ vẫn đang trong thể trạng tốt, thị trường đang nghiêng về dự đoán Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ tiến hành tăng lãi suất 4 lần trong năm tới, thay vì dự đoán 3 lần đưa ra trước đây. Lãi suất tăng làm giảm sức hấp dẫn của vàng đối với các nhà đầu tư.
Nông sản: Giá cà phê và đường tăng
Phiên cuối tuần, giá đường, cà phê, ca cao đều tăng. Tuy nhiên, tính chung cả tuần, đường cà cà phê tăng mạnh trong khi cacao giảm.
Giá ca cao kỳ hạn tháng 12/2018 trên sàn New York tăng 14 USD tương đương 0,7% lên 2.024 USD/tấn. Tính chung trong tuần, hợp đồng ca cao giao ngay giảm 0,8%, tuần giảm thứ 6 liên tiếp. Giá ca cao kỳ hạn tháng 12/2018 trên sàn London tăng 19 GBP tương đương 1,3% lên 1.527 GBP/tấn, tuần tăng đầu tiên trong 6 tuần.
Giá đường thô kỳ hạn tháng 3/2019 tăng 0,3 US cent tương đương 2,4% lên 12,63 US cent/lb, trong phiên có lúc đạt 12,7 US cent/lb, cao nhất kể từ đầu tháng 6/2018. Tính chung cả tuần, giá đường hợp đồng giao ngay tăng 21%, tuần tăng mạnh nhất kể từ năm 2008. Trong khi đó, giá đường trắng kỳ hạn tháng 12/2018 tăng 4,2 USD tương đương 1,2% lên 345,8 USD/tấn, cao nhất kể từ giữa tháng 7/2018.
Giá cà phê arabica kỳ hạn tháng 12/2018 tăng 2 US cent tương đương 1,9% lên 1,0895 USD/lb, tính chung cả tuần tăng 6,5%, tuần tăng thứ 3 liên tiếp và cà phê robusta giao kỳ hạn tháng 11/2018 tăng 39 USD tương đương 2,4% lên 1.655 USD/tấn.
Chủ tịch hãng chế biến cà phê cao cấp illycaffe SpA của Italy, Andrea Illy, cho biết, tình trạng giá cà phê thấp kéo dài đang trở thành mối đe dọa nghiêm trọng đối với thị trường này. Theo ông, sản lượng cà phê toàn cầu có thể tăng lên khoảng 172 triệu bao loại 60 kg trong niên vụ 2018/19, tăng so với mức tương ứng của niên vụ trước đó là gần 160 triệu bao. Điều này cho thấy xu hướng dư thừa nguồn cung sẽ còn tiếp diễn.
Tuy nhiên, tình hình sẽ thay đổi từ niên vụ 2019/20 do giá cà phê giảm khiến người nông dân dần bỏ cây cà phê và giảm đầu tư cho lĩnh vực này nhằm đối phó với tình trạng biến đổi khí hậu, vốn đang đe dọa hoạt động sản xuất toàn cầu.
Giá đậu tương tăng lần đầu tiên trong 3 phiên, do dự báo thời tiết mưa khu vực Trung tây Mỹ dấy lên mối lo ngại về tiến độ vụ thu hoạch bị chậm lại và khả năng ảnh hưởng đến chất lượng đậu tương.
Giá đậu tương kỳ hạn tháng 11/2018 trên sàn Chicago tăng 9-3/4 US cent lên 8,69 USD/bushel, tính chung cả tuần tăng 2,8%.
Trong khi đó, giá lúa mì kỳ hạn tháng 12/2018 trên sàn Chicago tăng 3 US cent lên 5,21 USD/bushel, tính chung cả tuần tăng 2,4%, được hậu thuẫn bởi lo ngại về khả năng gián đoạn nguồn cung từ Nga và hạn hán tại Australia.
Giá cao su kỳ hạn tại Tokyo kết thúc phiên giảm, do các nhà đầu tư điều chỉnh danh mục mặt hàng trước 3 ngày nghỉ cuối tuần tại Nhật Bản, song tính chung cả tuần giá cao su tăng nhẹ, được hậu thuẫn bởi đồng JPY giảm so với đồng USD.
Giá cao su kỳ hạn tháng 3/2019 trên sàn Tokyo giảm 0,1 JPY xuống 169,4 JPY (1,49 USD)/kg. Tuy nhiên, tính chung cả tuần giá cao su tăng 0,8%. Dự kiến giá cao su tại Tokyo có thể đạt ngưỡng 180 JPY vào giữa tháng 11/2018 và đạt 200 JPY vào cuối năm nay.

Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá 29/9

Giá 6/10

6/10 so với 5/10

6/10 so với 5/10(%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

73,25

74,34

+0,01

+0,01%

Dầu Brent

USD/thùng

82,73

84,16

-0,42

-0,50%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

55.740,00

56.610,00

-600,00

-1,05%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

3,01

3,14

-0,02

-0,70%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

208,57

208,61

-1,43

-0,68%

Dầu đốt

US cent/gallon

234,85

239,23

-0,74

-0,31%

Dầu khí

USD/tấn

724,25

741,75

-3,00

-0,40%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

73.100,00

73.800,00

-530,00

-0,71%

Vàng New York

USD/ounce

1.196,20

1.205,60

+4,00

+0,33%

Vàng Tokyo

JPY/g

4.342,00

4.390,00

+10,00

+0,23%

Bạc New York

USD/ounce

14,71

14,65

+0,06

+0,40%

Bạc TOCOM

JPY/g

53,00

53,50

-0,20

-0,37%

Bạch kim

USD/ounce

815,95

822,52

-2,39

-0,29%

Palladium

USD/ounce

1.075,00

1.071,74

+14,79

+1,40%

Đồng New York

US cent/lb

280,50

276,30

-1,45

-0,52%

Đồng LME

USD/tấn

6.258,00

6.173,00

-117,00

-1,86%

Nhôm LME

USD/tấn

2.062,00

2.130,00

-39,50

-1,82%

Kẽm LME

USD/tấn

2.612,00

2.635,00

-19,00

-0,72%

Thiếc LME

USD/tấn

18.875,00

18.975,00

0,00

0,00%

Ngô

US cent/bushel

356,25

368,25

+0,75

+0,20%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

509,00

521,00

+3,00

+0,58%

Lúa mạch

US cent/bushel

264,75

287,00

-1,00

-0,35%

Gạo thô

USD/cwt

9,78

10,82

+0,04

+0,37%

Đậu tương

US cent/bushel

845,50

869,00

+9,75

+1,13%

Khô đậu tương

USD/tấn

309,00

319,60

+7,40

+2,37%

Dầu đậu tương

US cent/lb

28,99

29,41

-0,20

-0,68%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

497,30

501,30

+2,30

+0,46%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.057,00

2.024,00

+14,00

+0,70%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

102,45

108,95

+2,00

+1,87%

Đường thô

US cent/lb

11,20

12,63

+0,30

+2,43%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

147,60

143,20

-1,40

-0,97%

Bông

US cent/lb

76,37

76,10

+0,10

+0,13%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

344,40

350,30

-11,10

-3,07%

Cao su TOCOM

JPY/kg

170,00

169,40

0,00

0,00%

Ethanol CME

USD/gallon

1,30

1,32

0,00

0,00%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg