Năng lượng: Gía dầu giảm khoảng 7%
Phiên giao dịch cuối cùng của tháng 9/2020, giá dầu biến động trái chiều, theo đó dầu Brent giảm, trong khi dầu WTI tăng nhờ hy vọng rằng gói kích thích kinh tế mới của Mỹ sẽ hỗ trợ thị trường, mặc dù còn đó những lo ngại về đại dịch COVID-19 tiếp tục ảnh hưởng đến những dự báo về nhu cầu dầu.
Dầu Brent kỳ hạn tháng 11/2020 đáo hạn vào ngày 30/9.
Kết thúc phiên 30/9, dầu Brent kỳ hạn tháng 12/2020 tăng 74 US cent lên 42,30 USD/thùng; dầu ngọt nhẹ Mỹ (WTI) tăng 93 US cent (2,4%) lên 40,22 USD/thùng.
Tính chung trong tháng 9/2020, dầu Brent giảm 7,11%, dầu WTI giảm 6,29% trong khi xăng giảm 1,66%.
Dầu WTI đang có xu hướng tích cực bởi một loạt các yếu tố hậu thuẫn.Chủ tịch Hạ viện Mỹ Nancy Pelosi và Bộ trưởng Tài chính Steven Mnuchin đều bày tỏ hy vọng về một bước đột phá đối với gói cứu trợ COVID-19. Do áp lực gia tăng trước cuộc bầu cử ngày 3/11, Bộ trưởng Mnuchin cho rằng ông và bà Pelosi có thể "đạt được một thỏa hiệp hợp lý" và trong một hoặc hai ngày tới có thể biết được hai bên "có chung tiếng nói" hay không.
Một yếu tố khác cũng hỗ trợ giá dầu là số liệu về lượng dầu dự trữ hàng tuần của Mỹ. Số liệu cho thấy các kho dự trữ dầu của Mỹ đã giảm khoảng 2 triệu thùng trong tuần kết thúc ngày 25/9, giảm nhiều hơn so với dự báo của các nhà phân tích.
Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) cho hay xuất khẩu tăng trong khi nhập khẩu giảm là nguyên nhân giúp lượng dầu dự trữ giảm. Nhập khẩu dầu thô ròng của Mỹ trong tuần trước đã giảm 536.000 thùng/ngày xuống 1,6 triệu thùng/ngày.
Kim loại quý: Giá vàng giảm trong tháng 9 nhưng vẫn tăng trong quý 3
Phiên cuối tháng, giá vàng giảm do những diễn biến trái chiều xung quanh phiên tranh luận bầu cử Tổng thống Mỹ đầu tiên đã đẩy các nhà đầu tư tìm đến đồng USD và làm gia tăng lo ngại về gói kích thích kinh tế mới của Mỹ.
Cuối phiên này, vàng giao ngay giảm 0,3% xuống 1.892,33 USD/ounce; vàng kỳ hạn giảm 0,4% xuống 1.895,50 USD/ounce.
Tính chung cả tháng 9/2020, giá vàng giảm khoảng 4%, mức giảm nhiều nhất kể từ tháng 1/2016. Chỉ số USD ước tính có tháng giao dịch tốt nhất kể từ tháng 7/2019. Mặc dù vậy, bất chấp sự sụt giảm gần đây, hầu hết các nhà phân tích đều nhận thấy quỹ đạo đi lên của vàng trong trung và dài hạn. Kim loại quý này đạt mức tăng quý thứ tám liên tiếp.
Phiên tranh luận đầu tiên của cuộc bầu cử tổng thống Mỹ giữa Tổng thống Donald Trump và đối thủ đảng Dân chủ Joe Biden đã khiến các nhà đầu tư trở nên thận trọng hơn và khiến họ tìm cách "trú ẩn" vào đồng USD, qua đó làm giảm sức hấp dẫn của vàng đối với những người nắm giữ đồng tiền tệ khác.
Về những kim loại quý khác, trong phiên cuối tháng, giá bạc giao ngay giảm 3% xuống 23,55 USD/ounce, và hướng đến tháng giao dịch tồi tệ nhất kể từ tháng 9/2011, giảm khoảng 11%; bạch kim tăng 1,3% lên 895,99 USD/ounce nhưng tính chung cả tháng cũng giảm 4%, trong khi palađi vững ở 2.309,20 USD/ounce trong phiên này, tính chung cả tháng tăng gần 3%.
Kim loại công nghiệp: Giá vững trong tháng 9
Phiên cuối tháng, giá đồng phục hồi do số liệu kinh tế mạnh từ Trung Quốc và Mỹ, mạc dù mức lưu kho tăng vọt.
Trong phiên này, giá đồng giao sau 3 tháng trên sàn giao dịch LME tăng 1,6% lên 6.686 USD/tấn, trước đó giá đã giảm xuống 6.563 USD. Dự trữ đồng của sàn LME tăng gần 30.000 tấn lên 165.000 tấn, và hơn gấp đôi trong một tuần qua.
Tính chung trong tháng 9, giá đồng gần như không thay đổi.
Hoạt động sản xuất của Trung Quốc tiếp tục tăng trưởng vững trong tháng 9, nhấn mạnh sự phục hồi kinh tế ổn định sau cú sốc bởi virus corona, trong khi số liệu của Mỹ cho thấy các công ty tư nhân đã tăng cường tuyển dụng trong tháng 9 nhiều hơn so với dự báo.
Các thị trường Trung Quốc sẽ đóng cửa từ ngày 1-8/10 để nghỉ lễ.
Giá quặng sắt Trung Quốc tăng 5% trong phiên vừa qua, do sự bùng phát của virus corona trên một tàu chở hàng hóa lớn tại cảng Hedland của Australia làm dấy lên lo sợ về gián đoạn nguồn cung.
Quặng sắt trên sàn giao dịch Đại Liên đóng cửa ở mức cao nhất kể từ ngày 21/9 tại 809 CNY (118,88 USD)/tấn. Giá đã tăng 16,6% trong quý 3, đánh dấu quý tăng thứ 4 liên tiếp.
Trên sàn giao dịch Singapore, quặng sắt tăng 3% lên 120,28 USD/tấn.
Những vấn đề mới nảy sinh với nguồn cung đã khiến giá quặng sắt tăng, công ty khai thác mỏ Vale S.A. dừng hoạt động tại nhà máy Viga ở Brazil, sẽ làm giảm sản lượng 11.000 tấn/ngày. Trong khi đó, một tàu chở hàng ở cảng Hedland, một trong những cảng vận chuyển quặng sắt lớn nhất thế giới, 17 trong số 21 thủy thủ bị dương tính với virus corona, điều này sẽ làm chậm việc vận chuyển hàng từ cảng này.
Tuy nhiên, việc giao dịch trên cả thị trường giao ngay và kỳ hạn trở lại trầm lắng trước đợt nghỉ lễ Quốc khánh và nghỉ Trung thu ở Trung Quốc.
Quặng sắt hàm lượng 62% giá đã tăng 27% trong năm nay, cũng được hỗ trợ bởi nhu cầu mạnh do Trung Quốc tiếp tục tăng cường sản lượng thép, mặc dù triển vọng tăng trong tương lai vẫn u ám.
Thép thanh dùng trong xây dựng trên sàn giao dịch kỳ hạn Thượng Hải tăng 1,1% trong khi thép cuộn cán nóng tăng 1%. Thép không gỉ giảm 0,9%.
Nông sản: Giá hầu hết tăng trong phiên cuối tháng
Phiên 30/9, giá ngũ cốc và đậu tương trên sàn giao dịch Chicago tăng sau khi Bộ Nông nghiệp Mỹ báo cáo tồn kho thấp hơn dự kiến.
Đậu tương CBOT kỳ hạn tháng 11 đóng cửa tăng 30-1/2 US cent lên 10,23-1/2 USD/bushel sau khi đạt 10,34-3/4 USD, giá cao nhất kể từ ngày 22/9. Ngô kỳ hạn tháng 12 đóng cửa tăng 14-1/4 US cent lên 3,79 USD/busehl sau khi đạt 3,82-3/4 USD, mức cao nhất kể từ ngày 6/3.
Lúa mì CBOT tăng 28-1/2 US cent lên 5,78 USD/bushel sau khi đạt 5,87 USD, cao nhất của hợp đồng này kể từ ngày 24/1.
Mức cung cấp sụt giảm sau khi Trung Quốc, nhà nhập khẩu đậu tương hàng đầu thế giới tăng cường mua hàng hóa nông sản của Mỹ trong mùa hè này.
Nguồn cung ngô đã giảm 3,024 tỷ bushel và đậu tương giảm 858 triệu bushel trong ba tháng (tháng 6,7,8), sự sụt giảm nguồn cung trong mùa hè lớn thứ 2 trong lịch sử với 2 hàng hóa này.
Giá đường thô kỳ hạn tháng 3/2021 đóng của phiên tăng 0,09 US cent hay 0,7% lên 13,51 US cent/lb. Hợp đồng kỳ hạn tháng 10 hết hạn trong phiên này ở mức 13,07 US cent/lb.
Ngân hàng Rabobank cho biết trong một lưu ý "trong quan điểm của chúng tôi, việc phân phối hàng diễn ra sôi động trong năm nay vì sản lượng giảm tại Thái Lan, nghĩa là các nhà kinh doanh đã từng mua đường của Thái Lan hiện nay cần tìm kiếm nguồn hàng ở nơi khác".
Đường trắng kỳ hạn tháng 12 tăng 3,4 USD hay 0,9% lên 375,3 USD/tấn.
Cà phê arabica kỳ hạn tháng 12 tăng 1,4 US cent hay 1,3% lên 1,1095 USD/lb, phục hồi sau khi xuống mức thấp hơn hai tháng tại 1,083 USD trong ngày 29/9.
Rabobank cho biết nhiệt độ tại Brazil có xu hướng cao hơn mức trung bình và việc mất độ ẩm của đất có thể trở thành một vấn đề nếu mưa không có trong vài tuần tới.
Cà phê rubusta kỳ hạn tháng 11 tăng 1 USD hay 0,1% lên 1.305 USD/tấn.
Giá cao su Nhật Bản giảm hơn 1%, giảm ngày thứ 2 liên tiếp, do số ca nhiễm virus corona tiếp tục tăng trên thế giới làm dấy lên lo ngại về nhu cầu và số liệu cho thấy tâm lý tiêu dùng của Nhật Bản lại giảm.
Hợp đồng cao su giao tháng 3/2021 trên sàn giao dịch Osaka đóng cửa giảm 2,5 JPY hay 1,3% xuống 184 JPY/kg.
Doanh số bán lẻ của Nhật Bản giảm 1,9% trong tháng 8 so với một năm trước, giảm tháng thứ 6 liên tiếp, bởi ảnh hưởng của khủng hoảng virus corona.
Hợp đồng cao su giao tháng 1/2021 trên sàn giao dịch kỳ hạn Thượng Hải giảm 2,3% xuống 12.350 CNY/tấn.
Giá hàng hóa thế giới

 

ĐVT

Giá 28/8

Giá 30/9

30/9 so với 29/8

30/9 so với 29/8 (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

42,85

40,20

-0,02

-0,05%

Dầu Brent

USD/thùng

45,57

40,95

-0,08

-0,19%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

30.430,00

28.300,00

+820,00

+2,98%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,65

2,56

+0,04

+1,46%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

127,61

120,08

-0,09

-0,07%

Dầu đốt

US cent/gallon

119,61

115,40

+0,18

+0,16%

Dầu khí

USD/tấn

362,50

335,75

+6,25

+1,90%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

43.350,00

42.880,00

+980,00

+2,34%

Vàng New York

USD/ounce

1.976,00

1.893,00

-2,50

-0,13%

Vàng TOCOM

JPY/g

6.714,00

6.410,00

+15,00

+0,23%

Bạc New York

USD/ounce

28,48

23,47

-0,03

-0,12%

Bạc TOCOM

JPY/g

95,80

79,30

-1,70

-2,10%

Bạch kim

USD/ounce

935,63

900,55

+7,35

+0,82%

Palađi

USD/ounce

2.245,77

2.321,77

+11,00

+0,48%

Đồng New York

US cent/lb

305,10

302,85

-0,40

-0,13%

Đồng LME

USD/tấn

6.667,00

6.672,00

+93,00

+1,41%

Nhôm LME

USD/tấn

1.800,00

1.765,00

-18,00

-1,01%

Kẽm LME

USD/tấn

2.515,00

2.403,00

-21,50

-0,89%

Thiếc LME

USD/tấn

17.850,00

17.494,00

+35,00

+0,20%

Ngô

US cent/bushel

353,00

381,25

+2,25

+0,59%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

549,25

582,25

+4,25

+0,74%

Lúa mạch

US cent/bushel

275,25

284,75

-1,00

-0,35%

Gạo thô

USD/cwt

12,21

12,45

-0,03

-0,24%

Đậu tương

US cent/bushel

943,75

1.033,00

+9,50

+0,93%

Khô đậu tương

USD/tấn

309,30

345,60

+2,80

+0,82%

Dầu đậu tương

US cent/lb

32,70

33,22

+0,09

+0,27%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

496,60

521,80

+1,40

+0,27%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.654,00

2.546,00

-42,00

-1,62%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

129,05

110,95

+1,40

+1,28%

Đường thô

US cent/lb

12,66

13,51

+0,09

+0,67%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

116,80

113,70

+2,90

+2,62%

Bông

US cent/lb

65,16

65,99

+0,20

+0,30%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

747,50

612,20

+10,00

+1,66%

Cao su TOCOM

JPY/kg

144,30

136,50

+0,40

+0,29%

Ethanol CME

USD/gallon

1,38

1,31

+0,02

+1,78%