Trên thị trường năng lượng, giá dầu tăng trở lại sau khi một tuyến đường ống dẫn dầu ở khu vực Biển Bắc ngừng hoạt động để sửa chữa.
Kết thúc phiên giao dịch, giá dầu thô Brent giao kỳ hạn tăng 1,29 USD (khoảng 2%) so với phiên giao dịch trước lên 64,69 USD/thùng; dầu ngọt nhẹ Mỹ (WTI) giao tháng 1/2018 tăng 63 US cent (1%) lên 57,99 USD/thùng.
Chênh lệch giá giữa 2 loại dầu lên mức cao nhất kể từ cuối tháng 10/2016 trong bối cảnh giá dầu Brent đi lên mạnh sau khi việc tuyến đường ống dẫn dầu từ mỏ dầu lớn hàng đầu khu vực Biển Bắc ngừng hoạt động đã tác động tới giá dầu Brent. Tuyến đường ống trên, có thể vận chuyển 450.000 thùng/ngày từ mỏ dầu Forties tới nhà máy sơ chế Kinneil tại Scotland, đã hoạt động cầm chừng trong khoảng bốn ngày trước khi đóng cửa.
Theo nhà phân tích năng lượng kỳ cựu Abhishek Kumar của Interfax Energy's Global Gas Analytics tại London (Vương quốc Anh), “mối lo về nguồn cung dầu không chỉ đến từ việc tuyến đường ống trên chiếm một tỷ trọng đáng kể trong sản lượng dầu thô của khu vực Biển Bắc mà còn vì sẽ cần tới vài tuần để xử lý vấn đề này”.
Trong khi đó, Thị trưởng thành phố New York Bill de Blasio mới xác nhận vụ nổ xảy ra sáng 11/12 (giờ địa phương) tại trạm xe điện ngầm gần Quảng trường Thời đại thuộc khu vực Manhattan, thành phố New York (Mỹ), là một âm mưu tấn công khủng bố. Lực lượng chức năng Mỹ xác nhận có bốn người bị thương song không đe dọa đến tính mạng.
Về thông tin liên quan, bộ trưởng Dầu mỏ Iraq Jabar al-Luaibi cho biết nước này đã nhất trí trao đổi 60.000 thùng dầu thô/ngày được khai thác từ mỏ dầu ở tỉnh Kirkuk để đổi lấy dầu thô của Iran. Trong một tuyên bố ngày 9/12, Bộ trưởng Luaibi nhấn mạnh thỏa thuận được hai nước ký kết nói trên sẽ cho phép Iran vận chuyển "vàng đen" tới các cảng ở miền Nam Iraq trên vùng Vịnh.
Bộ trưởng Dầu mỏ Kuwait Essam al-Marzouk dự báo thị trường dầu thô quốc tế được dự đoán sẽ tái cân bằng trong quý IV/2018 sau khi các nước sản xuất dầu tiếp tục gia hạn thỏa thuận giảm sản lượng.
Phát biểu bên lề cuộc họp giữa các bộ trưởng dầu mỏ của Tổ chức Các nước Dầu mỏ A-rập (OAPEC), ông Marzouk cho rằng giá dầu sẽ duy trì ở mức như hiện tại. Bộ trưởng Dầu mỏ Iraq Jabbar al-Luaibi cũng dự đoán giá dầu sẽ vẫn ở mức khoảng 60 USD/thùng, và cho biết thêm sản lượng của nước này sẽ chạm mức 5 triệu thùng/ngày trong quý I/2018.
Theo ông Marzouk, OPEC sẽ tổ chức một cuộc họp quan trọng vào tháng 6/2018 để đánh giá thỏa thuận cắt giảm sản lượng và có thể chuẩn bị xem xét việc chấm dứt thỏa thuận này.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng vững ở dưới mức 1.250 USD/ounce sau đợt giảm giá lớn nhất tính theo tuần trong hơn 6 tháng qua, khi thị trường đang đồn đoán về một đợt tăng lãi suất nữa của Fed trong tuần này.
Giá vàng giao ngay giảm 0,2% xuống còn 1.244,77 USD/ounce, vàng Mỹ giao tháng 2/2018 giảm 1,5 USD (hay 0,1%) và khép phiên ở mức 1.246,90 USD/ounce.
Dự đoán Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ nâng lãi suất trong cuộc họp chính sách kéo dài hai ngày 12-13/12, và giới đầu tư sẽ theo sát thông cáo kèm theo của Fed để nắm bắt đường hướng tiếp theo của cơ quan này. Nếu Fed - Ngân hàng trung ương Mỹ - có những bình luận theo hướng ủng hộ việc nới lỏng tiền tệ thì giá vàng sẽ được hưởng lợi.
Bên cạnh đó, các thị trường cũng đón đợi những bình luận về tiến độ của các đợt tăng lãi suất trong tương lai. Fed được dự đoán sẽ nâng lãi suất thêm hai hoặc ba lần nữa trong năm 2018, dù lạm phát và tăng trường tiền lượng vẫn “ì ạch” đã làm dấy lên những nghi ngại về khả năng này.
Giá vàng khá nhạy cảm với chính sách tiền tệ của Mỹ, do lãi suất tăng sẽ làm tăng chi phí cơ hội của việc nắm giữ vàng, đồng thời làm đồng USD tăng giá khiến kim loại quý này trở nên đắt đỏ hơn đối với người mua nắm giữ các đồng tiền khác.
Về những kim loại quý khác, giá bạc giảm 0,5% xuống còn 15,76 USD/ounce, trong lúc giá bạch kim tăng 0,3% lên 889,80 USD/ounce.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê arabica giảm xuống mức thấp nhất 5 tháng rưỡi xuống mức thấp nhất 7 tuần và là phiên giảm thứ 6 liên tiếp do dự báo nguồn cung sẽ tăng trong niên vụ tới. Robusta giao tháng 1 giá giảm 22 USD tương đương 1,3% xuống 1.728 USD/tấn.
Cà phê arabica giao tháng 3 giá giảm 2,6 US cent tương đương 2,1% xuống 1,2 USD/lb, trong phiên có lúc giá xuống 1,1955 USD, mức thấp nhất kể từ 23/6.
Đường thô giao tháng 3 cũng giảm 0,1 US cent tương đương 0,7% xuống 13,95 US cent/lb, trong phiên có lúc giá giảm xuống mức thấp nhất kể từ 24/10 là 13,9 US cent.
Thị trường chuyển hướng tập trung từ theo dõi tình hình sản xuất ở Brazil sang những nước sản xuất lớn khác trong đó có Liên minh châu Âu và Ấn Độ.
Đường trắng giao tháng 3 giá giảm 1,3 USD tương đương 0,4% xuống 365,50 USD/tấn.
Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

11/11

+/-

+/-(%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

57,99

-0,63

-1%

Dầu Brent

USD/thùng

64,69

-1,29

-2%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

42.530,00

+340,00

+0,81%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,83

+0,06

+2,16%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

173,22

+1,56

+0,91%

Dầu đốt

US cent/gallon

195,28

+2,40

+1,24%

Dầu khí

USD/tấn

573,75

+8,50

+1,50%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

57.680,00

+290,00

+0,51%

Vàng New York

USD/ounce

1.249,20

-0,20

+0,02%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.535,00

-14,00

-0,31%

Bạc New York

USD/ounce

15,80

-0,02

-0,15%

Bạc TOCOM

JPY/g

58,10

-0,30

-0,51%

Bạch kim giao ngay

USD/t oz.

888,30

+0,02

+0,00%

Palladium giao ngay

USD/t oz.

1.012,53

+3,79

+0,38%

Đồng New York

US cent/lb

301,45

+3,60

+1,21%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

6.571,00

+7,00

+0,11%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

2.010,50

+0,50

+0,02%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

3.082,50

-7,50

-0,24%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

19.450,00

+25,00

+0,13%

Ngô

US cent/bushel

349,50

-3,25

-0,92%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

413,00

-6,00

-1,43%

Lúa mạch

US cent/bushel

239,50

-2,50

-1,03%

Gạo thô

USD/cwt

12,06

0,00

-0,04%

Đậu tương

US cent/bushel

983,75

-6,00

-0,61%

Khô đậu tương

USD/tấn

332,00

-3,70

-1,10%

Dầu đậu tương

US cent/lb

33,64

-0,15

-0,44%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

503,10

-2,00

-0,40%

Cacao Mỹ

USD/tấn

1.919,00

+32,00

+1,70%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

121,45

-1,15

-0,94%

Đường thô

US cent/lb

13,99

-0,06

-0,43%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

152,25

-0,60

-0,39%

Bông

US cent/lb

73,18

-0,54

-0,73%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

430,80

+1,10

+0,26%

Cao su TOCOM

JPY/kg

203,50

+0,50

+0,25%

Ethanol CME

USD/gallon

1,32

-0,01

-1,05%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg