Trên thị trường năng lượng, giá dầu thô giảm do hoạt động bán chốt lời sau đợt giá tăng mạnh gần đây.
Kết thúc phiên giao dịch, giá dầu thô ngọt nhẹ (WTI) giao tháng 1/2018 trên sàn New York giảm 0,57 USD xuống 63,73 USD/thùng, trong khi giá dầu Brent giao tháng 3/2018 trên sàn London giảm 1,11 USD xuống 69,15 USD/thùng.
Thận trọng sau khi giá dầu hồi phục thời gian gần đây, các nhà đầu tư bán mạnh hàng ra để chốt lời.
Theo công ty dịch vụ năng lượng Baker Hughes, số giàn khoan dầu hoạt động tại Mỹ trong tuần tính đến ngày 12/1 đã tăng thêm 10 lên 752 giàn khoan. Đây là mức tăng mạnh nhất kể từ tháng 6/2017.
Tuy nhiên, sản lượng dầu mỏ của Mỹ - nhân tố chính kìm hãm đà phục hồi của giá dầu trong năm 2017- đã tạm thời chững lại do thời tiết băng giá tại Bắc Mỹ khiến hoạt động sản xuất bị gián đoạn. Thay vì lên mức 10 triệu thùng/ngày trong tháng 1/2018 như nhiều người dự đoán, sản lượng dầu của Mỹ hiện đã giảm xuống mức 9,5 triệu thùng/ngày, từ mức 9,8 triệu thùng/ngày của tháng 12/2017.
Bên cạnh đó, các nhà phân tích cũng cho rằng nhu cầu dầu đang duy trì vững ở mức cao. Trong báo cáo Triển vọng năng lượng ngắn hạn mới nhất, EIA dự báo mức tăng trưởng tiêu thụ dầu toàn cầu là 1,7 triệu thùng/ngày trong năm nay và ít hơn một chút vào năm 2019.
Cơ quan Năng lượng Quốc tế dự báo tăng trưởng nhu cầu là 1,3 triệu thùng/ngày trong năm nay. Con số này sụt giảm so với 1,5 triệu thùng/ngày dự báo trước đó, nhưng vẫn là một tốc độ tăng trưởng mạnh.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng giảm khỏi mức cao kỷ lục 4 tháng của phiên trước đó do đồng USD hồi phục.
Giá vàng giao ngay giảm nhẹ 0,2% xuống 1.337,04 USD/ounce. Tuy nhiên, vàng giao tháng 2/2018 tăng nhẹ 0,2% (2,2 USD) lên 1.337,1 USD/ounce.
Chỉ số USD – thước đo "sức khỏe" của đồng bạc xanh so với các đồng tiền chủ chốt khác – phục hồi 0,12% lên 90,56.
Giám đốc quản lý công ty quản lý đầu tư RBC Wealth Management, George Gero cho hay, bên cạnh đồng USD mạnh lên, việc giá các loại hàng hóa (như lúa mỳ, dầu thô, đồng) đều giảm cũng gây áp lực lên giá vàng.
Về những kim loại quý khác, giá bạc giảm 1% xuống 17,17 USD/ounce, rời khỏi mức cao nhất ba tháng đạt được trong phiên trước là 17,42 USD/ounce. Trong khi đó, giá bạch kim tăng thêm 0,2% lên 998 USD/ounce, sau khi đã đạt mức cao kỷ lục kể từ ngày 11/9/2017 là 1.001,4 USD/ounce trong phiên trước.
Giới chuyên gia nhận định, mặc dù giá vàng thế giới vẫn đứng khá vững sau ba lần nâng lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) trong năm 2017, song những đợt nâng lãi suất tới sẽ ảnh hưởng tới giá kim loại quý này. Lý do là vì lãi suất tăng sẽ giúp đồng USD mạnh lên, song lại khiến sức hấp dẫn của các tài sản không sinh lời như vàng giảm đáng kể.
Công ty dịch vụ đầu tư INTL FCStone dự đoán giá vàng sẽ dao động trong khoảng 1.225 – 1.430 USD/ounce trong năm 2018, với mức giá trung bình là 1.290 USD/ounce.
Ngân hàng Goldman Sachs nhận định, ba yếu tố có thể khiến giá vàng đi xuống trong vài tháng tới là đà tăng trưởng mạnh của các nền kinh tế phát triển, khả năng Fed tiếp tục nâng lãi suất và các nguy cơ địa chính trị hoặc suy thoái trầm trọng giảm bớt.
Nhà phân tích thị trường James Hughes thuộc AxiTrader cũng cho rằng tình hình bất ổn địa chính trị dịu xuống và việc các ngân hàng trung ương áp dụng chính sách bình thường hóa hay ổn định hóa chính sách tiền tệ đồng nghĩa với nhu cầu đầu tư vào vàng như là kênh trú ẩn an toàn cũng giảm theo. Theo đó, giá vàng có thể duy trì đà đi lên trong ngắn hạn nhưng cũng có thể rớt xuống dưới mức 1.300 USD/ounce vào thời điểm cuối năm 2018.
Tuy nhiên, giới đầu tư vẫn quan tâm đến kim loại quý này như là phương tiện tích trữ an toàn trước nguy cơ thị trường chứng khoán đảo chiều hay nợ quốc gia của Mỹ tăng vọt, khi Tổng thống Mỹ Donald Trump thực hiện chính sách cắt giảm thuế.
Trên thị trường nông sản, giá đường thô giảm xuống mức thấp nhất 3 tháng rưỡi do dự báo nguồn cung gia tăng. Đường thô giao tháng 3 giá giảm 0,59 US cent tương đương 4,2% xuống 13,59 US cent/lb, trong phiên có lúc giá xuống 13,57 US cent, mức thấp nhất kể từ cuối tháng 9,.
Đường trắng giao tháng 3 giá cũng giảm 8 USD tương đương 2,2% xuống 363,40 USD/tấn.
Các thương gia cho biết nguồn cung vốn dự báo sẽ tăng mạnh trên toàn cầu trong niên vụ 2017/18 sẽ càng tăng mạnh hơn do nước xuất khẩu lớn – Thái Lan – được mùa mía đường.
Mưa thuận lợi ở Brazil cuối tuần qua cũng giúp cho cây mía tăng trưởng tốt.
Với mặt hàng cà phê, giá arabica giao tháng 3 giảm 1,8 US cent tương đương 1,47% xuống 1,2045 USD/lb, trong phiên có lúc giá chỉ 1,1985 USD, mức thấp nhất kể từ 22/12.
Robusta giao tháng 3 giá giảm 2 USD tương đương 0,1% xuống 1.727 USD/tấn.
Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá

+/-

+/-(%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

63,73

-0,57

-0,84%

Dầu Brent

USD/thùng

69,15

-1,1

-1,20%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

44.940,00

-540,00

-1,19%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

3,13

+0,00

+0,13%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

184,25

+0,41

+0,22%

Dầu đốt

US cent/gallon

206,45

+0,11

+0,05%

Dầu khí

USD/tấn

613,50

-1,25

-0,20%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

59.860,00

-470,00

-0,78%

Vàng New York

USD/ounce

184,25

+0,41

+0,22%

Vàng TOCOM

JPY/g

206,45

+0,2

+0,05%

Bạc New York

USD/ounce

17,27

+0,08

+0,44%

Bạc TOCOM

JPY/g

61,20

-0,70

-1,13%

Bạch kim giao ngay

USD/t oz.

1.006,60

+7,59

+0,76%

Palladium giao ngay

USD/t oz.

1.107,12

+11,00

+1,00%

Đồng New York

US cent/lb

321,35

-0,60

-0,19%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

7.078,00

-132,00

-1,83%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

2.189,00

-38,00

-1,71%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

3.404,50

-18,50

-0,54%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

20.470,00

+170,00

+0,84%

Ngô

US cent/bushel

348,75

+0,50

+0,14%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

416,75

+0,25

+0,06%

Lúa mạch

US cent/bushel

250,25

+0,25

+0,10%

Gạo thô

USD/cwt

12,09

-0,05

-0,45%

Đậu tương

US cent/bushel

967,25

-0,75

-0,08%

Khô đậu tương

USD/tấn

322,50

-0,30

-0,09%

Dầu đậu tương

US cent/lb

32,79

0,00

0,00%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

489,90

+0,60

+0,12%

Cacao Mỹ

USD/tấn

1.932,00

+18,00

+0,94%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

120,45

-1,80

-1,47%

Đường thô

US cent/lb

13,59

-0,59

-4,16%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

140,40

+4,20

+3,08%

Bông

US cent/lb

81,43

-0,25

-0,31%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

474,70

+8,60

+1,85%

Cao su TOCOM

JPY/kg

210,50

-2,40

-1,13%

Ethanol CME

USD/gallon

1,36

+0,00

+0,29%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg