Trên thị trường năng lượng, giá dầu giảm bởi các nhà đầu tư dự đoán dự trữ dầu mỏ của Mỹ sẽ tăng lên.
Đóng cửa phiên giao dịch, giá dầu thô ngọt nhẹ (WTI) giao tháng 10/2017 trên sàn New York giảm 0,43 USD xuống 49,48 USD/thùng; dầu Brent giao tháng 11/2017 trên sàn London giảm 0,34 USD xuống đóng phiên ở mức 55,14 USD/thùng.
Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) sẽ công bố dữ liệu về lượng dầu mỏ dự trữ của nước này trong báo cáo hàng tuần vào ngày thứ Tư 20/9. Theo một cuộc khảo sát của hãng tin Bloomberg, các nhà phân tích dự đoán lượng dầu dự trữ của Mỹ sẽ tăng 3,4 triệu thùng.
EIA cũng cho biết sản lượng dầu khí đá phiến của Mỹ sẽ tăng mười tháng liên tiếp vào tháng 10/2017, nghĩa là sản lượng khai thác ở các mỏ dầu khí đá phiến chủ chốt ở nước này có thể đạt mức cao kỷ lục 6,08 triệu thùng/ngày trong tháng 10/2017.
Ngân hàng Barclays dự báo giá dầu ngọt nhẹ và dầu Brent sẽ lần lượt đạt mức trung bình là 49 USD/thùng và 53 USD/thùng trong năm 2017. Mức giá tương ứng của hai loại dầu trên dự đoán sẽ là 49 USD/thùng và 52 USD/thùng vào năm 2018.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng biến động nhẹ quanh mức thấp nhất 2 tuần của phiên trước, trong bối cảnh các nhà đầu tư chờ đợi thông tin từ cuộc họp chính sách của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed).
Giá vàng giao ngay tăng 0,21% lên 1.309,32 USD/ounce; vàng giao tháng 12 giảm 0,2 USD (0,02%) xuống 1.310,6 USD/ounce. Trong số những kim loại quý khác, giá bạc tăng 0,35% lên 17,27 USD/ounce, giá bạch kim giảm 0,74% xuống 952,4 USD/ounce.
Nhà phân tích Suki Cooper, thuộc Standard Chartered Bank tại New York, nhận định khối lượng giao dịch trong phiên không lớn, khi các nhà giao dịch ngóng chờ thông tin từ cuộc họp của Fed diễn ra trong hai ngày 19-20/9. Một số nhà phân tích dự báo Fed sẽ ra thông báo trong ngày 20/9 về kế hoạch giảm lượng trái phiếu đang nắm giữ và để ngỏ khả năng nâng lãi suất vào tháng 12 tới.
Bên cạnh đó, các chuyên gia cho rằng sự biến động của đồng USD và tình hình căng thẳng tại bán đảo Triều Tiên sẽ tiếp tục là các yếu tố chi phối giá vàng trong thời gian tới.
Tuần này, các chỉ báo kỹ thuật Stochastics báo xu hướng ngắn hạn của thị trường đang cho hướng giảm vì đã vượt qua vùng quá mua (khu vực sức mua suy yếu) hướng xuống. Khả năng giá vàng sẽ giảm xuống dưới mức cản tâm lý 1300 Usd/Oz và hướng tới hỗ trợ tại 1283 USD/ounce trước khi bật tăng trở lại.
Trên thị trường kim loại cơ bản, giá nickel xuống mức thấp nhất 1 tháng do các quỹ đầu tư bán ra mạnh.
Nickel giao sau 3 tháng tại London giảm 0,8% xuống 11.140 USD/tấn, trong phiên có lúc giá chỉ 10.875 USD/tấn. Tuần trước, có lúc giá chạm 10.845 USD/tấn, thấp nhất kể từ 18/8.
Giá trị đầu tư của các quỹ đầu cơ vào ngành công nghiệp kim loại đang ở mức cao nhất kể từ năm 2011, một dấu hiệu cho thấy giới đầu tư đang kỳ vọng gặt hái lợi nhuận từ đà tăng giá của nhiều kim loại sau nhiều năm rơi vào tình cảnh ảm đạm do dư thừa nguồn cung.
Số liệu từ nhà cung cấp dữ liệu đầu tư S&P Intelligence cho biết, tính đến đầu tháng 9-2017, tổng giá trị đầu tư của các quỹ đầu cơ hàng đầu trên thế giới ở các cổ phiếu ngành kim loại và khai khoáng đạt mức 18,52 tỉ đô la Mỹ, so với mức đỉnh gần 29 tỉ đô la Mỹ vào năm 2010 và mức thấp nhất gần đây 10,16 tỉ đô la Mỹ vào năm 2015.
Triển vọng của ngành công nghiệp kim loại đang tươi sáng trở lại khi Trung Quốc, nền kinh tế lớn thứ hai thế giới đồng thời là nước tiêu thụ và sản xuất các kim loại công nghiệp lớn nhất thế giới quyết liệt cắt giảm nguồn cung trong các ngành công nghiệp gây ô nhiễm môi trường bao gồm việc đóng cửa nhiều mỏ khai khoáng và nhà máy luyện kim.
Trên thị trường nông sản, giá đường thô giao tháng 10 giảm 0,55 US cent tương đương 3,8% xuống 14,37 US cent/lb, trong phiên có lúc giá xuống mức thấp nhất 2 tuần là 13,72 US cent. Mức này dưới mức trung bình của 40 ngày, do dự báo sẽ có mưa ở những khu vực trồng cà phê chính của Brazil.
Đường trắng giao tháng 12 giảm 11,90 USD tương đương 3,2% xuống 365 USD/tấn.
Với cà phê, giá arabica giao tháng 12 giảm 5 US cent tương đương 3,6%, xuống 1,3535 USD/lb. Robusta giao tháng 11 cũng giảm 22 USD tương đương 1,1% xuống 1.983 USD/tấn.
Mặc dù giữ nguyên dự báo cho giá cà phê robusta và arabica trong đầu năm 2018 nhưng ngân hàng Societe Generale (SocGen) cho rằng, cà phê robusta đang bị định giá khá thấp. SocGen dự báo giá cà phê robusta sẽ đạt 1.984 USD/tấn vào đầu năm tới. Mức giá này vẫn cao hơn so với kỳ vọng hiện tại của giới đầu tư. Giá arabica dự báo đạt 130 Uscent/pound vào cùng thời điểm.
Trong khi đó, nguồn cung arabica tại các nước sản xuất có khả năng sẽ tăng trong năm nay nhờ điều kiện thời tiết thuận lợi hơn. SocGen nâng dự báo sản lượng arabica năm 2017 của Colombia thêm 500.000 bao lên 14,2 triệu bao.
Tại Brazil, thời tiết mùa đông cũng không quá khắc nghiệt dù một số vùng trồng cà phê gần chịu bị dịch bọ cánh cứng. Sản lượng arabica năm nay của Brazil dự báo sẽ đạt 39 triệu bao, cao hơn dự báo trước đó của SocGen 1,5 triệu bao.
Đối với robusta, SocGen cho rằng: “Tồn kho cà phê robusta đang giảm dần vì sản lượng tại các nước sản xuất giảm mạnh. Tuy nhiên, cà phê robusta lại đang bị định giá khá thấp. Đáng lẽ, giá robusta phải tăng mạnh hơn so với giá arabica vì tình trạng thâm hụt nguồn cung loại hạt cà phê này nghiêm trọng hơn trong khi nguồn cung arabica đang dư thừa.”
Tuy nhiên, SocGen lại giảm 1,7 triệu bao trong dự báo sản lượng robusta của Việt Nam niên vụ 2017 – 2018 do yếu tố thời tiết bất lợi. Xuất khẩu cà phê của Việt Nam cũng giảm xuống chỉ còn 2,1 triệu bao trong niên vụ này.

Giá hàng hóa thế giới

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

49,48

-0,43

-0,81%

Dầu Brent

USD/thùng

55,14

-0,43

-,87%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

37.080,00

-180,00

-0,48%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

3,13

+0,01

+0,22%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

166,45

+0,95

+0,57%

Dầu đốt

US cent/gallon

178,19

+0,93

+0,52%

Dầu khí

USD/tấn

529,25

+0,75

+0,14%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

51.720,00

+60,00

+0,12%

Vàng New York

USD/ounce

1.315,40

+4,80

+0,37%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.686,00

+2,00

+0,04%

Bạc New York

USD/ounce

17,35

+0,07

+0,41%

Bạc TOCOM

JPY/g

61,90

+0,60

+0,98%

Bạch kim giao ngay

USD/t oz.

955,65

-2,80

-0,29%

Palladium giao ngay

USD/t oz.

916,43

+4,89

+0,54%

Đồng New York

US cent/lb

297.20

+0.30

+0.10%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

6,527.00

+20.00

+0.31%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

2,089.50

+3.50

+0.17%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

3,098.00

+67.00

+2.21%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

20,700.00

+160.00

+0.78%

Ngô

US cent/bushel

348,25

0,00

0,00%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

444,25

+1,25

+0,28%

Lúa mạch

US cent/bushel

242,50

+2,25

+0,94%

Gạo thô

USD/cwt

12,79

+0,01

+0,04%

Đậu tương

US cent/bushel

967,25

+1,75

+0,18%

Khô đậu tương

USD/tấn

309,50

+0,80

+0,26%

Dầu đậu tương

US cent/lb

34,73

-0,03

-0,09%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

491,00

-1,10

-0,22%

Cacao Mỹ

USD/tấn

1.965,00

-10,00

-0,51%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

135,35

-5,00

-3,56%

Đường thô

US cent/lb

14,37

-0,55

-3,69%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

152,15

+0,80

+0,53%

Bông

US cent/lb

69,54

+0,27

+0,39%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

381,80

+2,60

+0,69%

Cao su TOCOM

JPY/kg

210,60

-2,80

-1,31%

Ethanol CME

USD/gallon

1,56

-0,01

-0,57%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg