Năng lượng: Giá dầu giảm mạnh nhất kể từ đầu tháng 10/2017
Phiên giao dịch cuối tuần, giá dầu thô Brent giảm 70 US cent tương đương 1% xuống 68,37 USD/thùng, trong phiên có lúc giá chỉ 68,28 USD. Đầu tuần (15/1) giá loại dầu này đã lên mức 70,37 USD, cao nhất kể từ tháng 12/2014. Tuy nhiên, tính chung cả tuần giá giảm 1,8%, mức sụt giảm mạnh nhất kể từ đầu tháng 12/2017. Hợp đồng này sẽ đáo hạn vào ngày thứ Hai.
Dầu thô ngọt nhẹ (WTI) cũng giảm giá 58 US cent trong phiên cuối tuần, tương đương 0,9% xuống 64,89 USD/thùng. Loại dầu này phiên 16/1 đã chạm mức cao nhất kể từ tháng 12/2014 là 64,89 USD/thùng. Tính chung cả tuần, giá giảm 1,5%, mạnh nhất kể từ đầu tháng 10/2017.
Các hợp đồng dầu thô tương lai giảm nhẹ trong phiên cuối tuần do giới đầu tư ngày càng lo ngại về đà tăng sản lượng tại Mỹ, sau khi một cơ quan giám sát năng lượng lớn dự báo các nhà sản xuất dầu từ đá phiến sẽ thúc đẩy sản lượng lên mức cao chưa từng thấy kể từ những năm 1970.
Cũng trong phiên giao dịch cuối tuần, hợp đồng xăng giao tháng 2 mất 1,1% còn 1,864 USD/gallon, nhưng vẫn tăng 0.8% trong tuần qua. Hợp đồng dầu sưởi giao tháng 2 lùi 0.2% xuống 2,058 USD/gallon, đồng thời giảm 1,3% trong tuần qua. Hợp đồng khí thiên nhiên giao tháng 2 hạ 0,1% xuống 3,185 USD/MMBtu. Tuần qua, hợp đồng này đã giảm 0,5%.
Dầu đã nới rộng đà sụt giảm trong phiên giao dịch điện tử khi Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) dự báo sản lượng dầu tại Mỹ sẽ tăng lên trên mức 10 triệu thùng/ngày trong năm 2018, mức cao chưa từng thấy kể từ năm 1970.
Các nhà phân tích tại Sevens Report nhận định: “Kỳ vọng nhu cầu dầu mạnh mẽ, nền kinh tế toàn cầu phát triển cùng với thỏa thuận cắt giảm sản lượng của Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) đã có tác động tích cực đến tâm lý nhà đầu tư”. Hôm thứ Năm, giá dầu gần như đi ngang sau khi Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) cho biết nguồn cung dầu thô nội địa sụt 6,9 triệu thùng trong tuần kết thúc ngày 12/01/2018, đồng thời ghi nhận 9 tuần sụt giảm liên tiếp.
Dữ liệu từ Baker Hughes cho biết số giàn khoan dầu đang hoạt động tại Mỹ giảm 5 giàn xuống 747 giàn trong tuần này, sau khi tăng 10 giàn trong tuần trước đó.
Tuy nhiên, EIA cũng cho biết tổng sản lượng dầu thô tăng 258,000 thùng/ngày lên 9.75 triệu thùng/ngày trong tuần trước, gần sát mức 9.789 triệu thùng/ngày đã ghi nhận được trong tuần kết thúc ngày 15/12/2017 – mức cao kỷ lục kể từ năm 1983.
Được biết, nguồn cung bị thắt chặt, dự trữ toàn cầu sụt giảm cùng với nỗ lực cắt giảm sản lượng của OPEC và các đồng minh đã hỗ trợ giá dầu tăng cao. OPEC cho biết sản lượng dầu trong tháng 12/2017 tăng 42,000 thùng/ngày lên 32.42 triệu thùng/ngày, nhưng đồng thời nâng dự báo nhu cầu trong năm 2018 lên 98.51 triệu thùng/ngày.
Dẫu vậy, đà leo dốc của nguồn cung tại Mỹ vẫn là mối quan tâm quan trọng của thị trường.
Kim loại quý: Giá vàng giảm tuần đầu tiên trong 6 tuần
Phiên giao dịch cuối tuần, giá vàng tăng nhẹ do USD quanh mức thấp nhất gần 3 năm do lo ngại Chính phủ Mỹ phải đóng cửa.
Vàng giao ngay giá tăng 0,5% lên 1.334,58 USD/ounce, tính chung cả tuần giảm 0,3% mặc dù phiên đầu tuần (15/1) giá cao nhất 4 tháng. Vàng giao tháng 2 giá tăng nhẹ 5,9 USD tương đương 0,4% lên 1.333,10 USD/ounce.
Chỉ số đồng USD (ICE U.S. Dollar Index) – thước đo diễn biến của đồng USD so với 6 đồng tiền chủ chốt khác – phiên này dù nhích gần 0,2% lên 90,629, nhưng vẫn giảm 0,4% trong tuần qua. Đồng USD suy yếu khi nhà đầu tư tỏ ra lo lắng về khả năng Chính phủ đình chỉ hoạt động vào cuối tuần này.
Được biết, đồng USD suy yếu có thể làm tăng tính hấp dẫn của vàng, vốn được neo giá theo đồng bạc xanh. Ngược lại, đồng USD tăng mạnh có thể tác động tiêu cực đến vàng.
Vào ngày thứ Năm, Hạ viện Mỹ đã thông qua một dự luật ngân sách trong 1 tháng nhằm duy trì tài trợ cho Chính phủ đến ngày 16/02/2018. Tuy nhiên, dự luật này thiếu sự ủng hộ để có thể được Thượng viện thông qua và dự luật ngân sách tạm thời hiện tại sẽ hết hạn vào trưa ngày thứ Bảy.
Bên cạnh đó, dữ liệu kinh tế Mỹ khá ảm đạm trong ngày thứ Sáu. Cụ thể, tâm lý người tiêu dùng trong tháng 1/2018 sụt xuống đáy 6 tháng.
Trong số các kim loại khác giao dịch trên sàn Comex, hợp đồng bạc giao tháng 3 tiến 0,5% lên 17,036 USD/oz, nhưng vẫn giảm 0,6% trong tuần qua; Hợp đồng bạch kim giao tháng 4 tăng 1,3% lên 1.020,10 USD/oz, qua đó nâng tổng mức leo dốc trong tuần lên 2,5%. Hợp đồng palađi giao tháng 3 tăng 0,5% lên 1.098,40 USD/oz, tính chung cả tuần giảm 0,6%.
Nông sản: Giá đường thô giảm mạnh nhất kể từ tháng 8 năm ngoái
Phiên cuối tuần, giá đường thô giao tháng 3 tăng 0,17 US cent tương đương 1,3% lên 13,25 USD/lb, sau khi ở mức giá chỉ 13,02 USD phiên trước đó – thấp nhất kể từ cuối tháng 9. Hợp đồng đường thô tham chiếu đã giảm 6,6% trong cả tuần, mức giảm mạnh nhất kể từ tháng 8.
Đường trắng giao ngay tăng giá 40 USD cent trong phiên cuối tuần, tương đương 0,11% lên 353,50 USD/tấn, trong phiên có lúc giá chỉ 351,70 USD/tấn.
Với mặt hàng cà phê, giá arabica giao sau 1 tháng tăng 0,15 US cent tương đương 0,12% lên 1,2125 USD/lb sau khi có lúc giảm xuống 1,1960 USD, thấp nhất kể từ cuối tháng 12/2017.
Robusta giao tháng 3 giá giảm 37 USD tương đương 2,06% xuống 1.756 USD/tấn do các quỹ bán ra mạnh sau khi giá chạm mức cao nhất 1 tháng rưỡi (1.784 USD/tấn) trong phiên trước đó.
Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

13/1

20/1

20/1 so với 19/1

20/1 so với 19/1 (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

64,30

63,57

-0,38

-0,59%

Dầu Brent

USD/thùng

69,87

68,61

-0,70

-1,01%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

45.250,00

44.670,00

+70,00

+0,16%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

3,20

3,18

-0,01

-0,28%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

184,95

187,07

-1,28

-0,68%

Dầu đốt

US cent/gallon

208,50

206,21

+0,04

+0,02%

Dầu khí

USD/tấn

612,75

608,50

-4,25

-0,69%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

60.010,00

59.560,00

-140,00

-0,23%

Vàng New York

USD/ounce

1.334,90

1.331,10

+3,90

+0,29%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.765,00

4.731,00

-5,00

-0,11%

Bạc New York

USD/ounce

17,14

17,02

+0,07

+0,42%

Bạc TOCOM

JPY/g

61,50

60,70

-0,20

-0,33%

Bạch kim giao ngay

USD/t oz.

994,32

1.013,20

+11,66

+1,16%

Palladium giao ngay

USD/t oz.

1.125,35

1.107,57

+5,79

+0,53%

Đồng New York

US cent/lb

321,85

318,05

-1,85

-0,58%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

7.110,00

7.041,00

-35,00

-0,49%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

2.214,00

2.220,00

-21,00

-0,94%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

3.383,50

3.416,50

+40,50

+1,20%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

20.275,00

20.600,00

+170,00

+0,83%

Ngô

US cent/bushel

346,25

352,50

+1,00

+0,28%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

420,50

422,75

-2,50

-0,59%

Lúa mạch

US cent/bushel

249,50

258,00

-1,75

-0,67%

Gạo thô

USD/cwt

11,81

12,21

+0,06

+0,49%

Đậu tương

US cent/bushel

960,50

977,25

+4,25

+0,44%

Khô đậu tương

USD/tấn

317,00

331,60

+3,20

+0,97%

Dầu đậu tương

US cent/lb

33,13

32,28

+0,05

+0,16%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

493,00

496,00

+3,40

+0,69%

Cacao Mỹ

USD/tấn

1.914,00

1.931,00

-53,00

-2,67%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

122,25

121,25

+0,15

+0,12%

Đường thô

US cent/lb

14,18

13,25

+0,17

+1,30%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

136,20

146,50

+1,25

+0,86%

Bông

US cent/lb

81,68

83,42

+0,79

+0,96%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

466,10

480,00

+0,50

+0,10%

Cao su TOCOM

JPY/kg

209,50

209,60

+0,40

+0,19%

Ethanol CME

USD/gallon

1,36

1,36

-0,01

-0,73%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg