Cụ thể, theo thống kê của Aquafind, tính tới ngày 22/4/2016, giá tôm sú vỏ đông lạnh cỡ 21/25 của Việt Nam đạt 4,85 USD/pao (1pao ~ 453g) trong khi giá tôm cùng loại của Ấn Độ và Malaysia đều đạt 5,10 USD/pao; giá của Indonesia và Thái Lan đều đạt 4,95 USD/pao. Giá tôm cỡ U-15 của Việt Nam đạt 8,30 USD/pao trong khi giá tôm Ấn Độ và Malaysia đều đạt 8,50 USD/pao.

Cũng theo Vasep, Mỹ vẫn là thị trường NK lớn nhất của tôm Việt Nam, chiếm 24,5% tổng XK. Sau mức giảm 38,3% trong năm 2015, bước sang đầu năm 2016, XK tôm sang thị trường này tăng trưởng khá tốt. XK trong cả 3 tháng của quý I đều tăng từ 22-52% so với các tháng cùng kỳ năm 2015. Kim ngạch XK tôm Việt Nam sang Mỹ tính đến 15/4/2016 đạt 176,8 triệu USD; tăng hơn 25% so với cùng kỳ năm 2015.

XK tôm sang thị trường này tăng trong những tháng đầu năm là do DN XK sang thị trường này vẫn được hưởng lợi từ mức thuế CBPG của POR9. Mức thuế trung bình 0,91% trong POR9 đã giảm so với kết quả sơ bộ 0,93% công bố hồi tháng 3/2015 và giảm mạnh so với mức thuế 6,37% của kỳ xem xét lần trước POR8.

Bên cạnh đó, nhu cầu tôm từ thị trường Mỹ năm 2016 nhích lên do giá NK trung bình giảm. Giá NK trung bình trong tháng 3/2016 đạt 9,39 USD/kg so với 9,94 USD/kg của cùng kỳ năm 2015 và 9,6 USD/kg trong cả năm 2015. Giá tôm trên thị trường Mỹ những tháng đầu năm 2016 cũng giảm so với 2 năm trước đây. Doanh số bán tôm từ dịch vụ thực phẩm và các hãng bán lẻ tăng cũng là một trong những yếu tố thúc đẩy nhu cầu NK tôm của thị trường trong quý đầu năm nay.

Theo Vasep, trong quý đầu năm 2016, Mỹ NK tổng cộng 135.025 tấn tôm từ các nước, trị giá 1,2 tỷ USD; tương đương về khối lượng nhưng giá trị giảm 12% so với quý I/2015.

Tôm thịt đông lạnh loại khác (mã HS 0306170040) là sản phẩm chính nhập khẩu vào Mỹ, chiếm 42% tổng giá trị NK tôm vào Mỹ. Trong quý I/2016, Mỹ tăng cả khối lượng và giá trị NK mặt hàng này lần lượt là 19% và 2% so với cùng kỳ năm ngoái. Ấn Độ là nhà cung cấp lớn nhất mặt hàng này cho Mỹ trong khi Việt Nam đứng thứ 3 về cung cấp sản phẩm này cho Mỹ.

Tính tới tháng 3/2016, trên thị trường Mỹ, tôm Việt Nam phải cạnh tranh mạnh với tôm Ấn Độ, Thái Lan và Indonesia. Đáng chú ý, Ấn Độ tăng cả khối lượng và giá trị XK tôm sang Mỹ lần lượt là 13% và 1%. NK tôm từ Thái Lan tăng 5% về khối lượng nhưng giảm 16% về giá trị. Việt Nam đứng ở vị trí thứ 4 (sau Ấn Độ, Indonesia và Thái Lan) trong top 10 nguồn cung tôm lớn nhất cho Mỹ với khối lượng XK tôm sang Mỹ tăng 10%.

Theo Vasep, giá thành sản xuất tôm cao đang là nguyên nhân chính dẫn tới giá XK tôm của Việt Nam cao hơn khoảng 20% so với mặt bằng chung trên thị trường Mỹ. Giá tôm NK từ Việt Nam cao hơn so với hầu hết các đối thủ cạnh tranh (Indonesia, Ấn Độ, Ecuador, Thái Lan, Trung Quốc) trên thị trường Mỹ.

DOC mới đây đã ban hành kết quả sơ bộ mức thuế chống bán phá giá đối với tôm Việt Nam XK vào Mỹ trong lần rà soát hành chính lần thứ 10 (POR10), áp dụng đối với các lô hàng tôm XK từ ngày 1/2/2014 đến 31/1/2015.

Theo đó, mức thuế DOC áp với tôm Việt Nam đối với hai bị đơn bắt buộc gồm công ty Minh Phú Corp và Stapimex lần lượt là 2,86% và 4,78%. Mức thuế sơ bộ cho các bị đơn tự nguyện là 3,56%, cao gấp gần 4 lần so mức thuế chính thức của POR9 (0,91%), nhất là các đối thủ trực tiếp của tôm Việt Nam như Thái Lan, Ấn Độ lại có mức thuế thấp hơn.

Tuy nhiên, đây mới là kết quả sơ bộ, chưa áp dụng trên thực tế. Trong tháng 7 tới, phía DOC sẽ công bố kết quả chính thức mức thuế POR10. Trước đó, trong những lần rà soát, mức thuế suất chính thức thường giảm hơn so với mức thuế suất công bố trong kết luận sơ bộ. Tuy nhiên, XK tôm Việt Nam sang Mỹ chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng trước kết quả cuối cùng của POR10.

Nguồn: doanhnghiepvn.vn