Số liệu từ Hiệp hội Sắt và Thép Trung Quốc (CISA), chỉ số quặng sắt (CIOPI)  của nước này đạt 418,68 điểm hôm 29/7/2019, tăng 0,64% tương đương 2,66 điểm so với chỉ số trước đó hôm 29/7/2019.

Trong số đó, chỉ số giá quặng sắt thị trường nội địa đạt 367,86 điểm, tăng 0,03% tương đương 0,11 điểm so với chỉ số giá trước đó, chỉ số giá quặng sắt nhập khẩu đạt 428,29 điểm, tăng 0,74% tương đương 3,15 điểm so với chỉ số trước đó.

Giá quặng sắt tại Trung Quốc ngày 30/7/2019 tăng hơn 3%, tăng phiên thứ 4 liên tiếp do dự kiến nhập khẩu nguyên liệu sản xuất thép trong tháng 7/2019 suy giảm.

Giá quặng sắt kỳ hạn tháng 1/2020 trên sàn Đại Liên tăng 3,5% lên 780 CNY (113,25 USD)/tấn, trong phiên có lúc tăng 2,9%.

Nhập khẩu quặng sắt trung bình tuần của Trung Quốc từ các nước xuất khẩu hàng đầu Brazil và Australia trong 3 tuần đầu tháng 7/2019 giảm so với tháng trước đó, nhà phân tích Helen Lau thuộc Argonaut Securities cho biết.

Xuất khẩu trung bình tuần của Brazil giảm 8% so với tháng 6/2019 xuống 5,9 triệu tấn, trong khi các lô hàng từ Australia giảm 13% xuống 15 triệu tấn.

Nhà cung cấp số liệu Kpler dự kiến nhập khẩu quặng sắt của Trung Quốc trong tháng 7/2019 không thay đổi so với tháng 6/2019, song giảm 4,8% so với tháng 7/2018, trong đó công ty khai thác quặng Vale Brazil thúc đẩy xuất khẩu song công ty khai thác lớn Australia giảm xuất khẩu.

Nhập khẩu quặng sắt của Trung Quốc trong tháng 6/2019 giảm xuống 75,18 triệu tấn, thấp nhất kể từ tháng 2/2016, so với 83,24 triệu tấn tháng 6/2018 và 83,75 triệu tấn tháng 5/2019, do nguồn cung từ các công ty khai thác quặng  hàng đầu Australia và Brazil suy giảm.

Investors Service Moody điều chỉnh dự báo giá quặng sắt dao động lên 60-90 USD/tấn so với 45-75 USD/tấn do nguồn cung thắt chặt.

Giá quặng sắt 62% Fe giao ngay sang Trung Quốc tăng 0,4% lên 118 USD/tấn, công ty tư vấn SteelHome cho biết.

Mỏ khai thác quặng sắt tại Brazil đóng cửa và sản lượng tại Australiaa giảm đẩy thị trường quặng sắt thiếu hụt, tình trạng này dự kiến sẽ chỉ được cải thiện chậm lại trong năm nay và năm 2020.

Giá thanh cốt thép kỳ hạn trên sàn Thượng Hải giảm 0,1% xuống 3.910 CNY/tấn. Giá thép cán nóng sử dụng trong sản xuất xe ô tô và thiết bị gia dụng giảm 0,5% xuống 3.801 CNY/tấn.

Giá nguyên liệu sản xuất thép khác diễn biến trái chiều, với giá than luyện cốc tăng 0,4% trong khi than cốc giảm 0,3%.

Các thông tin khác:

Thanh cốt thép: Thống kê từ Bộ Thương mại Mỹ (DOC), trong tháng 5/2019 nước này xuất khẩu khoảng 8.300 tấn thanh cốt thép, giảm 4,2% so với tháng 4/2019, cũng giảm 69% so với tháng 5/2018.

Kim ngạch xuất khẩu đạt 6,4 triệu  USD, giảm so với 6,6 triệu USD và 18,5 triệu USD tháng 4/2019 và tháng 5/2018.

Trong số đó, xuất khẩu sang Canada chiếm phần lớn, đạt 5.300 tấn, tăng sov ới 4.500 tấn tháng 4/2019 và 23.000 tấn tháng 5/2018. Mexico cũng là một trong những điểm đến chính trong giai đoạn này đạt 1.800 tấn.

Thép HDG: Thống kê từ Bộ Thương mại Mỹ (DOC), trong tháng 6/2019 nước này nhập khẩu 162.000 tấn thép tấm và dải mạ kẽm  nhúng nóng, giảm 17,2% so với tháng 5/2019 và giảm 35,1% so với tháng 6/2018.

Kim ngạch nhập khẩu thép mạ kẽm nhúng nóng trong tháng 6/2019 đạt 156 triệu USD so với 185 triệu USD tháng 5/2019 và 233 triệu  USD tháng 6/2018.

Trong số đó, nước cung cấp chủ yếu trong tháng 6/2019 là Canada đạt 63.000 tấn, so với 68.000 tấn tháng 5/2019 và 80.800 tấn tháng 6/2018. Các thị trường cung cấp chủ yếu khác bao gồm Hàn Quốc đạt 19.000 tấn, Việt Nam đạt 11.400 tấn, Đài Loan (TQ) đạt 10.400 tấn và Mexico đạt 9.000 tấn.

Nguồn: VITIC/Reuters