1. Những đặc điểm chính của kinh tế thế giới

Kinh tế thế giới quý I/2016 tiếp tục khó khăn: các thị trường mới nổi vẫn tăng tưởng thấp; sản xuất ở nhiều lĩnh vực tiếp tục dư thừa; nợ doanh nghiệp cao; sự suy giảm các dòng chảy vốn và thương mại; thị trường tài chính có nhiều biến động; Trung Quốc theo đuổi mục tiêu chuyển đổi mô hình tăng trưởng hướng trọng tâm tới tiêu dùng trong nước khiến tăng trưởng giảm sút; lạm phát thấp trên toàn cầu; xu hướng gia tăng nới lỏng chính sách tiền tệ; giá dầu duy trì ở mức thấp; nhiều hãng sản xuất lớn đồng loạt công bố cắt giảm lao động trên quy mô lớn...

Sản lượng chế tạo trên toàn cầu trì trệ. Đầu tư cho kinh doanh mới chỉ tăng nhẹ, trong khi số đơn đặt hàng mới và việc làm mới đều giảm sút. Chỉ số PMI toàn cầu tháng 2/2016 ở mức 50 điểm, thấp nhất trong vòng 39 tháng và thể hiện sự đình trệ.

Các chỉ số sản xuất thế giới

Chỉ số

Tháng 1/2016

Tháng 2/2016

+/–

Tình trạng

PMI chế tạo toàn cầu

50,9

50,0

Trì trệ

Sản lượng

51,5

50,2

Tăng chậm lại

Đơn đặt hàng

51,4

50,4

Tăng chậm lại

Xuất khẩu

50,5

49,4

Giảm

Việc làm

50,3

49,5

Giảm

Giá nguyên liệu

47,7

48,1

+

Giảm với tốc độ chậm lại

Giá thành

49,4

48,9

Giảm và nhiều biến động

Nguồn: JP Morgan

Tuy nhiên, tiêu dùng và xuất khẩu ở nhiều thị trường được hưởng lợi nhờ giá hàng hóa thấp, cùng với chương trình kích thích kinh tế của nhiều ngân hàng trung ương làm gia tăng thanh khoản và tiền tệ rẻ đi so với USD.

1.1. Các nền kinh tế chủ chốt

Hầu hết các Trung tâm kinh tế lớn tiếp tục trì trệ.

Kinh tế Mỹ tăng trưởng vững trong quý I, nhưng có dấu hiệu chững lại. Kinh tế thế giới còn nhiều bất ổn, đặc biệt là rủi ro bị ảnh hưởng lớn bởi sự giảm tốc của kinh tế Trung Quốc khiến tiến độ nâng lãi suất chưa được thực hiện theo kế hoạch.

Báo cáo của Fed công bố sau cuộc họp tháng 3 cho biết có một số dấu hiệu gần đây cho thấy sự “không rõ ràng” về triển vọng tích cực của nền kinh tế Mỹ, trong khi “tình trạng không chắc chắn” có xu hướng gia tăng và có thể kéo theo nguy cơ làm suy yếu tốc độ tăng trưởng kinh tế. Các nhà hoạch định chính sách cũng nhận định những dấu hiệu xấu đe dọa triển vọng kinh tế Mỹ đã rõ nét hơn kể từ khi Fed lần đầu tiên trong hơn 9 năm qua nâng lãi suất cơ bản hồi giữa tháng 12 năm ngoái. Họ cũng lo ngại về nguy cơ chững lại của nền kinh tế Mỹ do ảnh hưởng ngày càng lớn từ tình trạng giảm tốc của kinh tế Trung Quốc và các nền kinh tế mới nổi khác.

EU tăng trưởng khá nhưng vẫn bấp bênh. Khu vực này vẫn chưa thoát khỏi khủng hoảng nợ công. Tăng trưởng của các đầu tầu kinh tế như Đức, Anh…đều chậm lại. Việc Anh có thể rời EU gây lo ngại về tổn thất lớn cho cả Anh và EU. Nguy cơ giảm phát ngày càng lớn, buộc ECB phải tăng cường các biện pháp kích thích kinh tế, trong bối cảnh không còn nhiều dư địa để can thiệp khi gói nới lỏng định lượng (QE) ngày 10/3/2016 đã được tăng lên mức 80 tỉ euro/tháng (thêm 20 tỉ euro tháng) và được gia hạn đến tháng 3/2017, đồng thời lãi suất tiền gửi của các ngân hàng thương mại tại ECB tiếp tục được hạ xuống còn âm 0,3%, lãi suất cơ bản và lãi suất tái cấp vốn xuống còn 0%.

ASEAN không có nhiều chuyển biến lớn.

Kinh tế Trung Quốc tiếp tục giảm tốc: Làn sóng thoái vốn vẫndiễn ra mạnh mẽ, bình quân trên 100 tỷ USD/tháng; sản xuất ở nhiều lĩnh vực dư thừa; xuất khẩu sụt giảm; sản lượng công nghiệp tăng thấp nhất kể từ tháng cuối năm 2008…

Kinh tế Nhật Bản trì trệ. Nguy cơ giảm phát hiện hữu.

Vai trò của các nền kinh tế mới nổi như Nga, Brzil… suy giảm. Cuộc khủng hoảng giá dầu và giá nguyên liệu đầu vào thấp đã dẫn đến sự suy thoái kinh tế của nhiều nước xuất khẩu dầu mỏ hay xuất khẩu nguyên liệu đầu vào như Nga, Venezuela, Brazil, gián tiếp tác động đến các nền kinh tế mới nổi và thậm chí làm ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế toàn cầu.

1.2. Diễn biến giá hàng hóa thị trường thế giới

Giá hàng hóa thế giới hồi phục trong quý I/2016 nhưng vẫn ở mức thấp. Biến động tỷ giá USD tác động mạnh tới thị trường hàng hóa ở nhiều thời điểm. Đáng chú ý nhất là ngày 17/3/2016, giá nhiều mặt hàng như dầu, kim loại cơ bản… lên mức cao kỷ lục nhiều tháng sau khi Fed quyết định hoãn nâng lãi suất một lần nữa, gây lo ngại về những khó khăn ở cường quốc số 1 thế giới, khiến chỉ số đồng USD giảm xuống mức thấp nhất 5 tháng.

Giá dầu hồi phục từ trung tuần tháng 1 bởi kỳ vọng các nước sản xuất lớn sẽ thống nhất việc đóng băng sản lượng trong bối cảnh số lượng giàn khoan ở Mỹ giảm đi. Phiên giao dịch 17/3 giá dầu thô Mỹ (WTI) lần đầu tiên kể từ đầu năm nay vượt lên trên 40 USD/thùng sau khi USD giảm giá mạnh. Đến cuối tháng 3/2016, giá dầu Brent đã tăng khoảng 45% so với mức đáy của ngày 20/1/2016, trong khi dầu WTI tăng 35%. Tuy nhiên, xu hướng giá tăng không bền vững bởi các nhà sản xuất, nhất là Mỹ, có thể sẽ nhanh chóng nâng sản lượng trở lại khi giá dầu tăng.

Giá vàng tăng 16% từ đầu năm đến nay bởi Fed trì hoãn nâng lãi suất khiến USD giảm sức hấp dẫn đối với giới đầu tư, và lo ngại ngại kinh tế toàn cầu giảm tốc khiến nhiều người tìm đến các tài sản an toàn.

Giá gạo cũng tăng bởi lo ngại thời tiết khô hạn do El Nino làm giảm sản lượng và biến động tỷ giá tiền tệ. Hạn hán ở Thái Lan và thiếu mưa ở Ấn Độ có thể ảnh hưởng xấu tới sản lượng niên vụ 2015/16. Xâm nhập mặn do thời tiết khô hạn cũng đã ảnh hưởng tới 10% diện tích trồng lúa ở Việt Nam. Ba quốc gia này chiếm khoảng 30% sản lượng gạo toàn cầu.

1.3. Lạm phát

Lạm phát của hầu hết các nước đều ở mức thấp hơn mục tiêu do nhu cầu yếu và giá hàng hoá giảm, đặc biệt là giá dầu. Lạm phát của Nhật quanh mức 0,2-0,3% trong suốt một năm qua, trong đó tháng 1/2016 đã rơi xuống 0% so với một năm trước đó. Lạm phát của EU sau khi ở 0,3% trong tháng 1 đã giảm xuống âm 0,2% trong tháng 2 lần đầu tiên trong vòng 5 tháng qua. Nguy cơ giảm phát ngày càng lớn, cản trở sự hồi phục kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên, sang tháng 2, lạm phát có dấu hiệu tăng khi giá dầu hồi phục, và khả năng lạm phát sẽ còn tăng trong tháng 3.

1.4. Chính sách kinh tế

Trong bối cảnh lạm phát thấp xa so với mục tiêu và kinh tế thế giới còn nhiều bất chắc, trong những tháng gần đây hầu hết các NHTW chủ chốt trên thế giới đã mở rộng chương trình kích thích kinh tế, một số tăng cung tiền theo chương trình QE, một số khác giữ nguyên lãi suất ở mức thấp hoặc hạ lãi suất, thậm chí đưa vào vùng âm để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Fed cũng thận trọng hơn trong quyết định nâng lãi suất. Trong cả 3 kỳ họp ở quý I, lãi suất của Mỹ vẫn được giữ nguyên.

2. Một số nền kinh tế quan trọng và đối tác lớn của Việt Nam

2.1. Mỹ

Kinh tế Mỹ tiếp tục tăng trưởng vững, là điểm sáng trong bức tranh kinh tế toàn cầu nhờ lương tăng, tỷ lệ thất nghiệp thấp, chi tiêu cá nhân mạnh…Tuy nhiên, đồng USD mạnh lên sau khi Fed nâng lãi suất vào cuối năm 2015 ảnh hưởng tới xuất khẩu và giá dầu thấp làm giảm lợi nhuận của ngành khai thác dầu khí, tác động tới lợi nhuận của toàn ngành sản xuất. Bên cạnh đó, các yếu tố từ bên ngoài như kinh tế Trung Quốc sa sút, kinh tế Châu Âu bấp bênh cũng ảnh hưởng nhiều đến kinh tế Mỹ. Đồng USD lên giá so với các tiền tệ khác cũng khiến hàng hóa của Mỹ giảm sức cạnh tranh ở các thị trường nước ngoài.

Số liệu tăng trưởng GDP Mỹ quý IV/2015 vừa được Bộ Thương mại nước này điều chỉnh lên 1%, từ mức 0,7% dự báo trước đó mặc dù thị trường tài chính có nhiều biến động và kinh tế thế giới xuất hiện những dấu hiệu sa sút. Theo dự báo mới nhất của một số tổ chức tài chính, GDP quý I/2016 ước tính tăng khoảng 2%. Con số này thấp hơn khoảng 0,3-0,4% so với dự báo trước đó bởi hoạt động bán lẻ ở Mỹ chậm lại và những tác nhân từ bên ngoài như Trung Quốc hay Eurozone.

Thị trường việc làm tiếp tục khởi sắc. Tỷ lệ thất nghiệp trong hai tháng đầu năm 2016 ổn định ở 4,9%, thấp  nhất kể từ tháng 4/2008. Thêm nhiều người có việc làm và thu nhập cải thiện (tăng 0,5% trong tháng 1/2016 so với 0,3% tháng 12/2015 và 0,3% tháng 1/2015) xuất phát từ tiền lương tăng 0,6% là động lực chính thúc đẩy chi tiêu tăng – yếu tố đóng góp tới 70% GDP của Mỹ. Chi tiêu cá nhân đã tăng mạnh 0,5% trong tháng 1/2016 (so với chỉ 0,1% tháng 12/2015 và 0,2% tháng 1/2015) chủ yếu bởi sức mua hàng lâu bền tăng 1,2%, dịch vụ tăng 0,6% và giá nhà tăng.

Tỷ lệ lạm phát tăng chậm lại, từ mức 1,4% trong tháng 1 xuống 1% trong tháng 2, song lạm phát lõi – không kể năng lượng và thực phẩm – tăng lên 2,3%, mức cao nhất kể từ tháng 2/2012. Đây là cơ sở để tin tưởng rằng lạm phát của Mỹ sẽ tiếp tục tiến gần tới mục tiêu tăng 2%.

Ngành chế tạo - chiếm 12% nền kinh tế Mỹ - tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn trong bối cảnh kinh tế thế giới sa sút. Giá trị đơn đặt hàng chế tạo lâu bền (từ lò nướng đến máy bay) giảm 2,8% trong tháng 2, xuống 229,3 tỷ USD, sau khi tăng 4,2% trong tháng 1 năm nay. Trong đó, giá trị đơn hàng máy bay thương mại giảm 27,1%, sau khi tăng 48,6%. Giá trị đơn đặt hàng lâu bền đã giảm ba trong bốn tháng qua.

Chính sách kinh tế. Sau khi nâng lãi suất lên 0,25%-0,5% vào ngày 16/12/2015, từ mức 0-0,25% duy trì suốt 7 năm trước đó, quý I/2016 Fed không tăng lãi suất thêm một lần nào nữa, bởi nhận định nền kinh tế quốc gia vẫn đang tiếp tục đối mặt với rủi ro từ sự bất ổn của nền kinh tế toàn cầu.

Ngoài quyết định không tăng lãi suất, Fed cũng gửi đi thông điệp sẽ hãm đà tăng lãi suất trong năm nay. Thay vì dự định tăng 4 lần, lãi suất có thể sẽ chỉ tăng 2 lần trong năm nay và 2 lần trong năm tới.

2.2. Khu vực đồng tiền chung Châu Âu (Eurozone)

Kinh tế Eurozone quý I tăng trưởng khá nhờ lĩnh vực công nghiệp – chiếm khoảng 20% kinh tế khu vực. Chi tiêu tiêu dùng tư nhân tiếp tục là một trong những động lực chính của nền kinh tế, được thúc đẩy nhờ giá dầu đi xuống và thu nhập của người lao động tăng. Đồng EUR yếu tạo thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu.

GDP của Eurozone quý I/2016 ước tính tăng trưởng 0,4% so với quý IV/2015, cao hơn so với 0,3% của hai quý trước đó. So với quý I/2015, GDP quý I/2016 tăng trưởng 1%. Tuy nhiên, hai nền kinh tế đầu tầu khu vực là Đức và Anh đều tăng trưởng chậm lại. Kinh tế Đức chỉ tăng 0,3% trong quý I so với quý trước đó, thấp hơn nhiều so với mức tăng 0,7% trong quý IV/2015.

PMI tăng lên 53,7 trong tháng 3/2016, cao nhất kể từ tháng 12/2015 (PMI tháng 1 đạt 53,6 điểm, và tháng 2 đạt 53 điểm), nhờ tăng trưởng cao ở các lĩnh vực dịch vụ và sản xuất.

Sản lượng công nghiệp tháng 1 tăng trưởng với tốc độ nhanh nhất trong vòng hơn 6 năm, tăng 2,1%, sau khi giảm liên tiếp 2 tháng trước đó. Các nhà chế tạo trong khu vực được hưởng lợi từ đồng EUR xuống giá, giúp cho sản phẩm của họ có khả năng cạnh tranh cao hơn trên thị trường quốc tế. Giá dầu và nguyên liệu thô thấp cũng mang lại lợi thế cạnh tranh về giá cho các nhà sản xuất. Sản lượng công nghiệp tại Đức tăng trưởng mạnh 2,9%. Tại một quốc gia khác, Ireland, sản xuất tăng 12,7%.

Tuy nhiên, kinh tế châu Âu vẫn đang đối mặt với nhiều khó khăn:

+ Lạm phát sau khi tăng từ 0,1% trong tháng 10/2015 lên 0,3% trong tháng 1/2016 đã giảm xuống -0,2% trong tháng 2, thấp xa so với mục tiêu. Lạm phát thấp cho thấy tăng trưởng của Eurozone thiếu sự chắc chắn.

+ Sự suy yếu của các nền kinh tế mới nổi, ảnh hưởng tới sản xuất của châu Âu. Xuất khẩu của Đức và Italia phụ thuộc tới 37% vào các quốc gia mới nổi. Tỷ lệ này với Luxembourg là 21%, Bỉ và Ireland là 25%.

+ Các biện pháp trừng phạt kinh tế giữa Nga và phương Tây gây tổn thất hàng chục tỷ USD cho mỗi bên. Theo số liệu của IMF, các biện pháp trừng phạt của phương Tây khiến Nga bị thiệt hại khoảng 9% GDP (khoảng 100 tỷ USD/năm) trong trung hạn.

+ Cuộc khủng hoảng di cư sang Châu Âu, lớn nhất kể từ Thế chiến thứ II đến nay. Năm 2015 và nửa đầu tháng 1/2016 đã có hơn 1 triệu người di cư tới châu Âu, làm gia tăng gánh nặng ngân sách và gây nhiều bất ổn cho khu vực này.

+ Nguy cơ Anh rời bỏ EU.

Chính sách kinh tế. Để thúc đẩy kinh tế tăng trưởng mạnh và hướng tới mục tiêu lạm phát 2%, ECB tăng cường các chính sách kích thích kinh tế trên quy mô lớn, và để ngỏ khả năng sẽ tăng cường kích thích hơn nữa.

Kết thúc cuộc họp hôm 10/3/2016, ECB quyết định hạ các mức lãi suất chủ chốt xuống thấp kỷ lục mới và cho biết sẽ in thêm tiền để đẩy lùi giảm phát tại Eurozone. Lãi suất tái cấp vốn được điều chỉnh giảm từ 0,05% xuống 0% và lãi suất tiền gửi từ -0,3% xuống -0,4%.

Bên cạnh đó, bắt đầu từ tháng 4/2016, ECB sẽ mua 80 tỷ EUR (tương đương 87 tỷ USD) trái phiếu mỗi tháng, từ mức 60 tỷ EUR trước đó. Chương trình kích thích này sẽ kéo dài ít nhất cho đến tháng 3/2017. Mục đích của các biện pháp này là nhằm cắt giảm chi phí đi vay và khuyến khích các ngân hàng cho các doanh nghiệp cũng như hộ gia đình vay vốn để có thể đầu tư và chi tiêu tự do hơn. Lãi suất âm được xem là biện pháp trừng phạt các ngân hàng nắm giữ lượng tiền mặt vượt quá mức cho phép.

Để thuyết phục các ngân hàng thương mại giúp đỡ doanh nghiệp và cá nhân hơn là tích trữ tiền mặt, ECB đã đưa ra 4 gói cho vay ưu đãi mới và sẽ có thưởng cho ngân hàng nào cho vay nhiều hơn. Ngoài ra, ECB còn giảm lãi suất trả cho khoản tiền mặt mà các ngân hàng thương mại gửi qua đêm tại ECB xuống mức -0,4%.

2.3. Trung Quốc

Kinh tế Trung Quốc vẫn trì trệ. Các chuyên gia ước tính GDP Trung Quốc tăng trưởng khoảng 6,7% trong quý I/2016, thấp hơn mức 6,8% của quý trước đó, do sản xuất công nghiệp và đầu tư đều chậm lại, trong bối cảnh tiêu dùng và xuất khẩu tăng chậm.

Sản xuất Trung Quốc tăng trưởng chậm kéo dài, thể hiện ở PMI sản xuất giảm 8 tháng liên tiếp tính tới tháng 2. Sản lượng công nghiệp trong 2 tháng đầu năm chỉ tăng 5,4%, mức tăng hàng tháng thấp nhất kể từ tháng 11/2008.

Cả xuất và nhập khẩu đều giảm mạnh trong 2 tháng đầu năm 2016 với tốc độ giảm xuất khẩu mạnh nhất trong vòng 7 năm (Giá trị xuất khẩu giảm 25,4% trong tháng 2 so với cùng kỳ năm ngoái sau khi giảm 11,2% trong tháng 1; nhập khẩu giảm 13,8% so với cùng kỳ 2015 sau khi giảm 18,8% trong tháng 1). Các doanh nghiệp Trung Quốc đang phải chống chọi với sự sụt giảm nhu cầu từ các thị trường lớn trong bối cảnh kinh tế toàn cầu không ổn định. Chính phủ đã cam kết tăng cường hỗ trợ tài chính và tiền tệ nhằm thúc đẩy nền kinh tế hiện đang trì trệ.

Lạm phát Trung Quốc đang tăng trở lại, lên mức 2,3% trong tháng 2, tăng mạnh so với mức 1,8% trong tháng 1/2016. Đây là mức tăng lạm phát lớn nhất kể từ tháng 7/2014. Ước tính lạm phát trong quý I năm nay vào khoảng 2,2%, do giá thực phẩm tăng mạnh trong dịp Tết cổ truyền và nhu cầu nội địa hồi phục. Trung Quốc đặt mục tiêu duy trì CPI ở mức khoảng 3% trong năm 2016, phản ánh các yếu tố như chi phí lao động tăng cao, biến động giá cả của các sản phẩm nông nghiệp và tác động của cải cách giá hơn nữa.

Chính sách kinh tế. Trung Quốc tiếp tục cải cách nền kinh tế theo định hướng thị trường theo mô hình tăng trưởng bền vững, vì vậy đã gây ra những biến động mạnh trên thị trường tài chính cũng như giảm tốc độ tăng trưởng GDP và nhiều lĩnh vực kinh tế. Trong quý I/2016, Trung Quốctiếp tục thực hiện nhiều biện pháp kích thích kinh tế, như liên tiếp"bơm tiền" vào hệ thống tài chính thông qua các giao dịch thị trường mở; nới lỏng nhiều lĩnh vực cho doanh nghiệp nước ngoài để thu hút đầu tư… và đang dự tính cải tổ hệ thống thuế thu nhập, kể cả miễn giảm lãi suất thế chấp, chi phí giáo dục và chi phí nuôi con nhằm duy trì tiêu dùng như động lực tăng trưởng chính.

DỰ BÁO 

1. Dự báo chung về triển vọng kinh tế thế giới

1.1.Cơ sở dự báo

Yếu tố thuận lợi. Kinh tế thế giới quý I/2016 hưởng lợi từ các yếu tố thuận lợi sau:

- Toàn cầu hóa kinh tế ngày càng mạnh mẽ.

- Tiêu dùng ở nhiều Trung tâm kinh tế có dấu hiệu hồi phục.

- Kinh tế Mỹ vững vàng.

- Trung Quốc tiếp tục dịch chuyển trọng tâm kinh tế từ xuất khẩu sang tiêu dùng nội địa, về lâu dài sẽ giúp kinh tế thế giới tăng trưởng bền vững.

- Giá hàng hóa thế giới dự báo tiếp tục duy trì ở mức thấp sẽ thúc đẩy nhu cầu tăng. Giá dầu thấp tạo điều kiện cho tăng trưởng của nhiều nền kinh tế nhập khẩu dầu lớn như Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc.

Yếu tố bất lợi và rủi ro. Thế giới sẽ tiếp tục phải đối mặt với nhiều  rủi ro.

- Nguy cơ bất ổn tài chính – tiền tệ toàn cầu xuất phát từ chính sách lãi suất thấp kéo dài.

- Tăng trưởng chậm lại ở các nền kinh tế mới nổi, đặc biệt là Trung Quốc.

- Giá dầu thấp khiến các nền kinh tế dựa nặng vào xuất khẩu dầu bị thiệt hại nặng.

- Rủi ro địa chính trị ở Trung Đông và khủng bố ở nhiều nơi.

- Xuất hiện dấu hiệu của sự tan rã ở EU. Ngày 23/6/2016 tại Anh sẽ diễn ra cuộc trưng cầu dân ý về việc ở lại hay rời bỏ EU. Cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ diễn ra vào ngày 8/11 cũng sẽ mở ra những thay đổi về chính sách kinh tế trong tương lai ở cường quốc số 1 thế giới.

1.2. Dự báo

Kinh tế thế giới quý II/2016 sẽ tiếp tục tăng trưởng chậm, do các nền kinh tế lớn như Trung Quốc, Nhật Bản, EU đều chưa thoát khỏi giai đoạn khó khăn, trong khi Mỹ cũng bị tác động từ những bất ổn từ bên ngoài.

Lạm phát sẽ vẫn duy trì ở mức thấp trong khi nhiều NHTW không còn nhiều dư địa để can thiệp nhiều hơn.

Tuy nhiên, giá hàng hóa thấp và các chương trình kích thích kinh tế hỗ trợ tiêu dùng khởi sắc.

Dự báo, giá hàng hóa thế giới sẽ tiếp tục hồi phục trong quý II/2016 nhưng vẫn quanh quẩn ở mức thấp. Một số mặt hàng như nông sản có thể tăng giá bởi thời tiết bất lợi. Giá dầu sẽ hồi phục nhưng không nhiều, bởi sản lượng vẫn trong tình trạng dư thừa.

Theo IMF, kinh tế toàn cầu sẽ tăng trưởng nhẹ trong năm 2016, một phần đến từ sự hồi phục nhẹ của các nước phát triển như Mỹ, Liên minh Châu Âu và Nhật Bản.

Những bất ổn trong bối cảnh kinh tế thế giới hiện nay khiến xu hướng đầu tư tập trung vào các lĩnh vực và tài sản có tính trú ẩn như đồng yên Nhật Bản, đồng franc Thụy Sỹ, đồng USD, trái phiếu chính phủ Đức hay vàng… Nhưng, một khi mọi nhà đầu tư đều quá cẩn trọng thì lại rất khó để kích thích tăng trưởng kinh tế, và như thế càng làm nguy cơ khủng hoảng tăng lên.

2. Dự báo về một số nền kinh tế quan trọng

Mỹ. Triển vọng Fed sẽ tiếp tục nâng lãi suất một cách thận trọng trong năm 2016, với số lần nâng lãi suất dự kiến giảm xuống chỉ còn 2 lần từ mức 4 lần dự kiến trước đây, do bất ổn kinh tế thế giới, nhất là kinh tế Trung Quốc.

Eurozone. Triển vọng kinh tế châu Âu sẽ gặp nhiều khó khăn trong năm nay, do nhiều yếu tố bất lợi: Cuộc trưng cầu dân ý ở Anh gây tâm lý bất an, lạm phát thấp, khủng bổ có dấu hiệu gia tăng, ảnh hưởng từ việc kinh tế Trung Quốc tăng chậm lại, cuộc chiến cấm vận giữa EU và Nga....

Tuy nhiên, lãi suất thấp và chương trình kích thích kinh tế lớn sẽ hỗ trợ doanh nghiệp vay tiền để thúc đẩy sản xuất và người tiêu dùng vay tiền để mua sắm.

Tuy nhiên, rủi ro với kinh tế khu vực này đang gia tăng, bởi ngoài việc kinh tế Trung Quốc tăng chậm lại, Nga và phương Tây tiếp tục cấm vận và trả đũa, châu Âu cũng đang phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng di cư, có nguy cơ ảnh hưởng lâu dài. ECB đã hạ dự báo tăng trưởng và lạm phát 2016 của Eurozone lần lượt xuống mức 1,4% và 0,1%.

Nhật Bản. Kinh tế Nhật Bản sẽ tiếp tục trì trệ. Chương trình kích thích kinh tế đang mất dần tác dụng. Lạm phát thấp sẽ cản trở sự hồi phục.

Các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển. Khu vực này vẫn tăng trưởng ì ạch. Giá nguyên liệu thấp kéo dài đã ảnh hưởng tới kinh tế của nhiều quốc gia trong nhóm này. Kinh tế Trung Quốc tiếp tục giảm tốc là mối lo ngại chính của các nền kinh tế khác. 

Dự báo kinh tế thế giới

Nguồn: IMF, báo cáo tháng 1/2016

 

2015

(ước tính)

2016 (dự báo)

2017 (dự báo)

Q4 so với Q4

2015

(ước tính)

2016 (dự báo)

2017 (dự báo)

GDP

Thế giới

3,1

3,4

3,6

3,0

3,4

3,6

Các nước phát triển

1,9

2,1

2,1

1,8

2,2

2,0

Mỹ

2,5

2,6

2,6

2,1

2,7

2,5

Eurozone

1,5

1,7

1,7

1,5

1,8

1,6

Nhật Bản

0,6

1,0

0,3

1,5

1,2

-0,3

Các nước mới nổi và đang phát triển

4,0

4,3

4,7

4,0

4,5

4,9

Nga

-3,7

-1,0

1,0

-4,1

0,2

1,4

Trung Quốc

6,9

6,3

6,0

6,8

6,1

6,0

Ấn Độ

7,3

7,5

7,5

7,3

7,5

7,6

ASEAN-5

4,7

4,8

5,1

4,6

4,8

5,5

Khối lượng thương mại thế giới (hàng hóa và dịch vụ)

2,6

3,4

4,1

, , ,

, , ,

, , ,

Nhập khẩu

 

 

 

 

 

 

Các nước phát triển

4,0

3,7

4,1

, , ,

, , ,

, , ,

Các nước mới nổi và đang phát triển

0,4

3,4

4,3

, , ,

, , ,

, , ,

Giá hàng hóa (USD)

 

 

 

 

 

 

Dầu

-47,1

-17,6

14,9

-42,7

5,3

11,1

Hàng hóa phi nhiên liệu

-17,4

-9,5

0,4

-19,0

-2,2

0,3

Consumer Prices

 

 

 

 

 

 

Các nước phát triển

0,3

1,1

1,7

0,4

1,3

1,9

Các nước mới nổi và đang phát triển

5,5

5,6

5,9

7,0

9,9

20,4

Nguồn: VITIC