Nếu loại trừ dầu thô, kim ngạch ước đạt 2,51 tỷ USD, tăng 9,2% so cùng kỳ (cùng kỳ chỉ tăng 6,4%). Trong đó phân chia theo nhóm hàng:

Nhóm hàng nông lâm thủy hải sản ước đạt 319.286.000 USD, giảm 21,97% so cùng kỳ và chiếm tỷ trọng 12,72% kim ngạch trừ dầu thô. Các mặt hàng có kim ngạch tăng cao so với cùng kỳ như thủy sản tăng 4,1%, hạt điều tăng 13,6%. Riêng mặt hàng cao su tăng 61,0% do nhu cầu của thị trường Trung Quốc tăng mạnh và giá xuất khẩu tăng gấp 2 lần so với cùng kỳ. Các mặt hàng có kim ngạch giảm như gạo giảm 72,5%, cà phê giảm 6,1%, riêng hạt tiêu giảm 31,8% do điều kiện thời tiết khắc nghiệt, đặc biệt tại các tỉnh Tây Nguyên, ảnh hưởng đến sản lượng xuất khẩu. Nhóm hàng công nghiệp ước đạt 2,02 tỷ USD, tăng 37,37% so cùng kỳ và chiếm tỷ trọng 80,48% kim ngạch trừ dầu thô; trong đó máy tính, sản phẩm điện tử và kinh kiện ước tăng 96,3%; hàng may mặc tăng 12,4%; giày dép các loại tăng 14,1%; gỗ và sản phẩm gỗ tăng 13,2%; giây điện&dây cáp điện tăng 10,01%; đá quý, kim loại quý & sản phẩm tăng 31,14%; bánh kẹo & sản phẩm từ ngũ cốc tăng 36,06%; sản phẩm từ cao su tăng 27,69%; chất dẻo nguyên liệu tăng 40,61%... so cùng kỳ.

Nhóm hàng hóa khác ước đạt 180.701.000 USD, tăng 18,51% so cùng kỳ, chiếm tỷ trọng 7,20% kim ngạch trừ dầu thô.

Kim ngạch nhập khẩu tháng 1 ước đạt 3,48 tỷ USD, tăng 27,6 so với cùng kỳ. Trong đó: nhóm mặt hàng cần thiết phải nhập khẩu chiếm tỷ trọng 69,83% tổng kim ngạch, kim ngạch ước đạt 2,43 tỷ USD, tăng 44,40% so cùng kỳ; trong đó nhập khẩu nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày tăng 25,8%; sắt thép các loại tăng tăng 23,7%; máy vi tính, sản phẩm điện tử & linh kiện tăng 82,5%; máy móc, thiết bị, dụng cụ & phụ tùng khác tăng 34,1% so cùng kỳ.... Nhóm mặt hàng cần thiết phải nhập khẩu nhưng phải kiểm soát ước đạt 636.092.000 USD, tăng 51,80% so cùng kỳ, chiếm tỷ trọng 18,28% kim ngạch. Nhóm mặt hàng hạn chế nhập khẩu ước đạt 293.614.000 USD, tăng 23,35% so với cùng kỳ và chiếm tỷ trọng 8,44% tổng kim ngạch.

Nguồn: moit.gov.vn