Tuy nhiên, nhập khẩu của bốn khách hàng chính châu Á vẫn dưới mức năm trước trong tháng thứ 4 liên tiếp, đây là lần đầu tiên xảy ra kể từ khi các lệnh trừng phạt của phương Tây chống lại Tehran được dỡ bỏ trong tháng 1/2016 dẫn tới xuất khẩu tăng vọt.
Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc và Nhật Bản đã cùng nhau nhập khẩu 1,64 triệu thùng/ngày trong tháng 8, giảm 10,8% so với một năm trước.
Iran hướng tới mục tiêu duy trì xuất khẩu dầu thô và khí ngưng tụ ở mức khoảng 2,6 triệu thùng/ngày từ nay đến hết năm mặc dù bảo dưỡng gần đây, lượng dầu chứa trong kho cạn kiệt và nhu cầu trong nước ngày càng tăng sẽ hạn chế xuất khẩu ra nước ngoài.
Nhập khẩu của Trung Quốc tăng 5,5% trong tháng 8 so với một năm trước lên 786.720 thùng/ngày, khối lượng cao nhất hàng tháng kể từ năm 2006, theo số liệu của Reuters Eikon.
Nhập khẩu của Hàn Quốc đã tăng vọt 46,7% lên 407.323 thùng/ngày, mức cao 5 tháng. Tuy nhiên Ấn Độ tiếp tục giảm nhập khẩu để trả đũa với quyết định của Tehran trao mỏ khí đốt khổng lồ cho một công ty của Nga. Ấn Độ đã nhập khẩu 335.400 thùng/ngày trong tháng 8, mức thấp nhất kể từ tháng 2/2016 và giảm khoảng 42% so với một năm trước.
Nhập khẩu dầu thô của Nhật Bản từ Iran giảm tháng thứ 4 liên tiếp so với một năm trước xuống 107.357 thùng/ngày, khối lượng thấp nhất kể từ tháng 4.
Iran đã được miễn trừ khỏi thỏa thuận giảm sản lượng của OPEC, một chiến thắng đối với Tehrran cho rằng họ cần lấy lại thị phần đã mất khi bị các lệnh trừng phạt của phương Tây về chương trình hạt nhân của mình.
Iran hướng tới mục tiêu nâng sản lượng khoảng 4 triệu thùng/ngày vào cuối năm nay và 4,5 triệu thùng/ngày trong 5 năm tới từ khoảng 3,8 triệu thùng/ngày trong những tháng gần đây.
Bảng số liệu nhập khẩu dầu thô từ Iran trong tháng 8 và 8 tháng đầu năm 2017
ĐVT: thùng/ngày
 

Quốc gia

T8/2017

T8/2016

+/- (%)

8T/2017

8T/2016

+/- (%)

Trung Quốc

786.720

746.029

5,5

609.886

614.703

-0,8

Ấn Độ

335.400

575.900

-41,8

497.600

394.700

26,1

Nhật Bản

107.357

235.612

-54,4

159.196

216.101

-26,3

Hàn Quốc

407.323

277.613

46,7

413.337

269.803

53,2

Tổng cộng

1.636.800

1.835.154

-10,8

1.680.019

1.495.307

12,4

Nguồn: VITIC/Reuters