Tại các tỉnh phía Bắc, giá lương thực, thực phẩm đứng: Giá lúa tẻ thường ở mức phổ biến 6.500 – 8.500 đ/kg, giá gạo tẻ thường ở mức 12.000 – 14.000đ/kg.

Tại các tỉnh phía Nam, cụ thể Bình Dương, giá gạo tẻ giảm 500 đ còn 13.000 đ/kg; Bạc Liêu giá lúa giảm 250 đ còn 5.400 đ/kg, gạo nguyên liệu giảm 100-200 đ/kg, nguyên liệu lức còn 6.550 đ/k, nguyên liệu trắng còn 6.750 đ/kg; Cần Thơ giá lúa jasmine khô giảm 100 đ còn 6.200 đ/kg trong khi lúa thường tăng 450 đ lên 5.950 đ/kg; Đồng Tháp giá lúa thường giảm 100 đ còn 4.200 đ/kg, gạo nguyên liệu giảm 50 đ còn 6.200 – 6.550 đ/kg; An Giang giá lúa giảm 200 đ còn 4.450 đ/kg, gạo nguyên liệu giảm 250-350 đ/kg, loại 1 còn 6.850 đ/kg, loại 2 còn 6.200 đ/kg, gạo thành phẩm xuất khẩu giảm 150-700 đ/kg: 5% còn 7.700 đ/kg, 15% còn 7.200 đ/kg, 25% còn 6.900 đ/kg.

Theo Vinafood 2, Việt Nam vừa ký được phiếu xuất khẩu 240.000 tấn gạo cho Malaysia. Tuy nhiên, thỏa thuận này vẫn chưa thể kéo được giá lúa gạo nội địa do vụ đông xuân 2014-2015 thu hoạch rộ từ tháng 2 đến tháng 3, trong khi hợp đồng được giao từ tháng 4-2015. Bên cạnh đó, Thái Lan đang xả hàng bán gạo với giá thấp và Trung Quốc đang siết nhập khẩu tiểu ngạch sẽ khiến việc xuất khẩu gạo Việt Nam gặp khó về thị trường tiêu thụ trong thời gian tới.

Hiện giá lúa và gạo thành phẩm nội địa đã giảm 500-600 đồng/kg so với mức giá cách đây hơn nửa tháng. Giá xuất khẩu gạo 25% tấm của Việt Nam giảm 4% từ tuần trước xuống 320-325 USD/tấn (FOB) hôm 4/2, thấp nhất kể từ 28/7/2010. Giá xuất khẩu gạo 5% tấm cũng giảm xuống 355-360 USD/tấn (FOB), thấp nhất kể từ 18/9/2013.

Cà phê: giá tăng

Trong tuần từ 5 đến 7/2/2015, giá cà phê nhân xô tại các tỉnh Tây nguyên tăng 200– 300 đồng, lên ở mức 39.300 – 39.900 đồng/kg.

Giá cà phê Robusta xuất khẩu loại 2, 5 % đen vỡ, được chào 1.843 USD/tấn, FOB – HCM, với mức trừ lùi 90 USD theo giá kỳ hạn tháng 3 tại London.

Tính chung cả tuần, giá cà phê Robusta kỳ hạn tăng 8 USD/tấn, tương đương tăng 0,42 %, trong khi giá cà phê nhân xô trong nước tăng 500 đồng/kg, tương đương tăng 1,28 %, và giá cà phê Arabica kỳ hạn tăng 4,95 cent/lb, tức tăng 3,06 %, mức tăng nhiều nhất.

Tổ chức Cà phê Quốc tế (ICO) cho biết, trong năm dương lịch 2014, Việt Nam tiếp tục giữ vị trí ‘Á quân’ trong xuất khẩu cà phê, đứng sau Brazil nhưng vượt xa các đối thủ khác. Số liệu của ICO cho thấy Việt Nam xuất khẩu được 25 triệu bao cà phê (loại 60kg/bao) trong cả năm 2014, tăng 22% so với năm 2013 (21,5 triệu bao). Vị trí “quán quân” thuộc về Brazil khi quốc gia Nam Mỹ này xuất khẩu được 36,3 triệu bao cà phê trong 12 tháng năm 2014, tăng 15% so với mức 31,5 triệu bao của năm 2013. Đứng thứ ba trong bảng xếp hạng là Colombia. Quốc gia này xuất khẩu được xấp xỉ 11 triệu bao cà phê năm ngoái, giảm 13% so với năm 2013.

Cao su thành phẩm tại các tỉnh Đông Nam Bộ và Tây Nguyên tăng

Giá cao su thành phẩm tại các tỉnh Đông Nam Bộ và Tây Nguyên ngày 9/2 tăng 500-600 đ/kg so với ngày 6/2. Cụ thể: mủ cao su RSS3 ở mức 29.100 đ/kg; Cao su RVR10 giá 23.800 đ/kg; Cao su SVR3L giá 28.800 đ/kg; mủ cao su tạo (dạng chén) giá 10.100 đ/kg.

Theo Hiệp hội Cao su Việt Nam, trong tuần 02/02 đến 06/02/2015, giá cao su Việt Nam xuất khẩu chào bán tiếp tục không thay đổi so với cuối tháng 01, giá SVR 3L vẫn là 1.530 USD/tấn.

Giá SVR 3L của Việt Nam xuất khẩu trung bình tuần đầu tháng 02/2015 đạt 1.530 USD/tấn, giảm 43 USD/tấn (-2,7%) so với mức trung bình trong tháng 01/2015, và giảm 689 USD/tấn (-31,1%) so với tháng 02/2014.

Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam (VGR) dự báo năm 2015 sẽ tiếp tục là một năm khó khăn đối với ngành cao su khi lợi nhuận từ cây cao su sẽ không nhiều. Giá cao su trên thị trường dự báo ở mức 31.000 đ/kg, trong khi giá thành sản xuất là 30.000 đ/kg. Theo đánh giá của VGR, nguyên nhân của tình trạng này là do Trung Quốc, thị trường tiêu thụ cao su lớn nhất của Việt Nam đã ngừng mua vào khiến doanh nghiệp trong nước không bán được hàng.

Sắn và các sản phẩm từ sắn: giá ổn định

Ngày 9/2/2015, tại khu vực Miền Trung – Tây Nguyên, các nhà máy bắt đầu giảm công suất hoạt động chuẩn bị nghỉ Tết, giá mì vẫn trong xu hướng ổn định.

Tại miền Bắc, giá mì về khu vực Hà Nội vẫn giữ ở mức 4.360 – 4.400 đ/kg, trong khi tại Hải Dương giá tăng tiếp 50 đồng, lên mức 4.550 – 4.600 đ/kg.

Tại Quy Nhơn, ngày 9/2, lượng mì chuyển về giảm 10.000 tấn/ngày, trong đó mì Cam chiếm khoảng 1/3.

Số liệu thống kê sơ bộ từ TCHQ Việt Nam, tháng 12/2014, cả nước đã xuất khẩu 310,1 nghìn tấn sắn và các sản phẩm từ sắn, trị giá 113,5 triệu USD, tăng 11,9% về lượng và tăng 9,3% về trị giá so với tháng 11/2014, trong đó 74,1 nghìn tấn sắn, trị giá 16,3 triệu USD, tăng 0,6% về lượng nhưng giảm 8,1% về trị giá.

Tính chung cả năm 2014, cả nước đã xuất khẩu 3,3 triệu tấn sắn và sản phẩm, trị giá 1,1 tỷ USD, tăng 7,91% về lượng và tăng 3,82% về trị giá so với năm 2013, trong đó 1,6 triệu tấn sắn, trị giá 397,7 triệu USD, tăng 3,9% về lượng và tăng 2,8% về trị giá.

NG.Hương

Nguồn: Vinanet tổng hợp từ Agromonitor.vn, thitruonggiaca.com.vn, thitruongcaosu.net