Giá lúa gạo ổn định

Tuần qua giá lúa gạo nhìn chung ổn định. Cụ thể, tại ĐBSCL, giá lúa khô duy trì ở các mức tuần trước đó, trong đó lúa hạt dài (lúa loại I) là 4.400 – 4.500 d/dkg, lúa thường (loại II) là 4.300 – 4.400 đ/kg.

Giá gạo nguyên liệu tuần qua cùng xu hướng, với loại I làm ra gạo 5% tấm duy trì ở mức 7.000 – 7.200 đ/kg, loại II làm ra gạo 25% ở mức 6.550-6.750 đ/kg.

Giá gạo thành phẩm xuất khẩu không bao bì tại mạn trong tuần qua cũng ít thay đổi. Cụ thể, giá gạo 5% duy trì ở mức 8.400 – 8.500 đ/kg, gạo 15% tấm ở mức 7.700 – 7.800 đ/kg, gạo 25% tấm ở mức 7.500 – 7.600 đ/kg.

Kết thúc kế hoạch sáu tháng dầu năm, mặc dù các doanh nghiệp trng nước đã nỗ lực tìm kiếm thị trường, nhưng kết quả xuất khẩu gạo Việt Nam đạt được không như mong muốn khi giảm cả ề số lượng và giá trị.

Tuy nhiên, với những tín hiệu xuất hiện vào tháng Năm, tháng Sáu vừa qua, một số doanh nghiệp chờ đợi sự trở lại của các thị trường truyền thống châu Á.

Hiệp hội Lương thực Việt Nam cho biết trong sáu tháng đầu năm nay, xuất khẩu gạo cả nước đã đạt hơn 3 triệu tấn, trị giá FOB là hơn 1 tỷ USD. So với cùng kỳ năm ngoái, lượng gạo xuất khẩu giảm gần 14%, tương đương 208 triệu USD.

Trong sáu tháng đầu năm Trung Quốc vẫn được coi là thị trường tiêu thụ lớn nhất các loại gạo của Việt Nam, nhất là các tháng Hai và tháng Ba. Tuy nhiên, sang tháng Tư xuất khẩu gạo sang thị trường này có sự sụt giảm, tháng Năm tiếp tục giảm trên 25% cả về lượng và kim ngạch so với tháng trước đó.

Theo đánh giá của các chuyên gia, nguyên nhân khiến xuất khẩu gạo của Việt Nam giảm chủ yếu là do Thái Lan đẩy mạnh bán gạo tồn kho làm giá giảm quá sâu, khiến xuất khẩu gạo chính ngạch của Việt Nam gặp nhiều trắc trở. Trong khi đó, xuất khẩu gạo của Việt Nam giảm nhưng giá ổn định ở mức cao, do xuất khẩu biên giới Trung Quốc tăng làm nguồn cung hạn chế. Gạo Việt Nam thiếu cạnh tranh với gạo Thái Lan nên mất dần thị trường so với gạo Thái, nhất là thị trường châu Phi.

Giá cà phê giảm trở lại

Tuần qua, giá cà phê trong nước đã quay đầu giảm. Cụ thể, đến cuối tuần qua giá cà phê nhân xô tại thị trường Đắk Lăk, Lâm Đồng, Gia Lai, Đaknông giảm từ mức 40.500 – 41.200 đ/kg (tùy địa phương và chất lượng) xuống còn 39.200 – 40.000 đ/kg.

Giá cà phê xuất khẩu FOB, Tp. HCM chào bán giảm từ mức 2.028 USD/T xuống còn 1.969 USD/tấn. Mức trừ lùi chính thức của giá cà phê xuất khẩu chào bán của nước ta so với hợp đồng kỳ hạn chính giao tháng 09/2014 trên sàn London tuần qua là -40 USD/Tấn.

Hiện nay, cà phê nhân của tỉnh Đắk Lắk đã được xuất khẩu đến 60 nước và vùng lãnh thổ, trong đó có 31 thị trường đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 triệu USD trở lên. Theo đánh giá từ Ủy ban Nhân dân tỉnh Đắk Lắk, thị trường xuất khẩu càphê của tỉnh vẫn ổn định. Các thị trường truyền thống như Đức, Nhật Bản, Italy, Hoa Kỳ, Tây Ban Nha, Hàn Quốc, Thụy Sĩ, Pháp, Nga... vẫn chiếm tỷ trọng lớn về lượng càphê xuất khẩu của tỉnh. Từ đầu năm đến nay, tỉnh Đắk Lắk đã xuất khẩu được trên 138.000 tấn càphê nhân, tăng 9,2% so cùng kỳ này năm ngoái.

Giá bán mủ cao su tiếp tục giảm

Tại Đông Nam Bộ, Tây Nguyên giá cao su thành phẩm tại đây tăng 100-300 đ/kg so với hôm 11/7. Hiện giá cao su thiên nhiên trên thị trường các tỉnh Đông Nam Bộ ở mức 35 triệu đồng/tấn, giảm khoảng 2 triệu đồng/tấn so với tháng trước.

Giá bán mủ cao su liên tiếp giảm. Để ứng phó với việc này, Hiệp hội cao su Việt Nam (VRA) đã khuyến cáo người sản xuất, doanh nghiệp có kế hoạch giảm khai thác để tránh giá xuống thấp hơn trong thời gian tới. VRA khuyến cáo người dân, doanh nghiệp giảm bớt bón phân, giảm cường độ cạo và không cạo mủ vào chủ nhật, ngày lễ, không cao mủ sớm ở các vườn cây non. Bên cạnh đó, đối với những vườn cao su cần trồng xen canh và chăn nuôi kết hợp để nâng cao giá trị vườn cây.

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong 6 tháng đầu năm 2014, Việt Nam đã xuất khẩu 337.000 tấn cao su, giá trị thu về đạt 644 triệu đô la Mỹ, giảm gần 12% về lượng, và giảm đến 33% về giá trị so với cùng kỳ năm 2013. Giá xuất khẩu bình quân trong 5 tháng đầu năm nay là 1.842 đô la Mỹ/tấn, giảm gần 29% so với cùng kỳ năm 2013, Trung Quốc tiếp tục là thị trường xuất khẩu cao su lớn nhất của Việt Nam trong tháng 5/2014 với 26,25 nghìn tấn, chiếm tỷ trọng 25,2%.

Tham khảo giá nông sản trong nước tuần từ 7-11/7/2014 (triệu đồng/tấn)

Hàng hóa
7-11/7
30/6-4/7
Địa phương
Cà phê nhân robusta   
39,4-40,8
40,0-41,3
Miền Trung Tây Nguyên
Cacao           
57,8-58,6
58,0-58,9
Daklak
Hạt tiêu đen    
171,0-176,0
164,0-170,0
Miền Nam
Đường trắng      
13,0-15,5
13,0-15,5
Miền Nam
Lúa Đông Xuân
 
5,10-5,90
ĐBSCL
Lúa Hè Thu
5,20-5,90
5,00-5,60
 

NG.Hương

Nguồn: Vinanet/Thitruong.vtic.vn, Thời báo KTSG