Không chỉ chiếm lĩnh thị trường sản xuất và XK toàn cầu, Trung Quốc đang dần “lột xác” trở thành nhà NK thủy sản tiềm năng của thế giới. Nhu cầu tiêu thụ thủy sản ngày càng cao của “con rồng” này đã và đang mở ra cơ hội cho các nhà XK nước ngoài, trong đó có Việt Nam.

Trung Quốc có diện tích lớn thứ 4 toàn cầu (9,6 triệu km2) và dân số đứng đầu thế giới (trên 1,3 tỉ người). Cũng giống nhiều quốc gia lớn khác, thị trường này không đồng nhất, với sự đa dạng về tầng lớp và thị hiếu tiêu dùng. Khí hậu và địa dư phong phú của Trung Quốc - từ ôn đới đến cận nhiệt đới, từ vùng biển đến núi cao - cũng khiến hình thành các tập quán tiêu thụ khác nhau. Hệ thống lưu thông và phân phối sản phẩm, do đó, thay đổi giữa các vùng miền, đòi hỏi thị trường cung cấp đa dạng với nhiều “cửa nhập”.

Ngành thủy sản Trung Quốc

Nhà sản xuất và XK thủy sản số 1 thế giới

Với đội ngũ nhân công lành nghề, cơ sở hạ tầng tốt, khả năng tiếp cận vốn và quy mô sản xuất tối ưu, Trung Quốc được mệnh danh là “nhà máy thủy sản” của thế giới, đóng góp trên 40% tổng sản lượng thủy sản toàn cầu. Đặc biệt, sản lượng nuôi của siêu cường này chiếm đến 60% sản lượng nuôi của thế giới, lớn hơn rất nhiều so với sản lượng khai thác tự nhiên. Các hoạt động NTTS chủ yếu dựa trên hệ thống thâm canh thấp với các vùng cá tập trung ở miền duyên hải phía Đông và phía Nam.

Năng lực sản xuất thủy sản của Trung Quốc không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng nội địa mà còn biến nước này thành nhà vô địch thế giới về XK thủy sản. Ngành XK thủy sản nước này mang về gần 19 tỉ USD trong năm 2011, trong khi tốc độ tăng trưởng hàng năm đạt 15% trong giai đoạn 2000-2011. Kim ngạch XK năm 2012 ước đạt trên 20 tỉ USD, thủy sản sẽ trở thành mặt hàng nông nghiệp XK hàng đầu của Trung Quốc. Hai mô hình kinh doanh XK thủy sản của nước này bao gồm: NK nguyên liệu thủy sản khai thác tự nhiên - chế biến - tái xuất, và NTTS trong nước - chế biến - XK.

Nhà NK thủy sản “khổng lồ” trong tương lai

Là siêu cường XK thủy sản, Trung Quốc cũng đồng thời là thị trường tiêu thụ thủy sản lớn nhất toàn cầu với mức tiêu thụ bằng ¼ thế giới. Năm 2009, mức tiêu thụ thủy sản bình quân trên đầu người của Trung Quốc đạt khoảng 30 kg/người/năm.

Dân số và thu nhập là các yếu tố then chốt khiến ngành NK thủy sản của quốc gia này không ngừng tăng trưởng. Không chỉ dừng lại ở 1,3 tỉ người, số lượng người tiêu dùng ưa chuộng thủy sản sẽ còn tiếp tục tăng cùng với tốc độ tăng của dân số. Thêm vào đó, sự xuất hiện của lớp người tiêu dùng mới là nhóm người giàu có, thu nhập cao ở Trung Quốc đã dẫn tới tăng nhu cầu tiêu thụ các loài thủy sản cao cấp. Đặc biệt, khi đội tàu viễn dương của nước này không thể mở rộng thêm nữa (thậm chí còn thu hẹp lại), thì nguồn cung các sản phẩm cao cấp sẽ phải đến từ NK, bên cạnh sản lượng nuôi nội địa.

Đáng chú ý là ngành NK thủy sản của Trung Quốc không chỉ tăng trưởng ở các mặt hàng thượng hạng mà còn ở cả các mặt hàng giá trị thấp như cá đáy nguyên liệu (dùng cho chế biến tái xuất hoặc sản xuất bột cá). Vì vậy, có thể nói đây là một thị trường NK thủy sản đa dạng – từ các mặt hàng thấp cấp nhất đến các mặt hàng cao cấp nhất.

Những thay đổi trong hoạt động XNK thủy sản của Trung Quốc

Chu trình vận động của ngành chế biến thủy sản thế giới và những thay đổi nội tại của Trung Quốc đã có ảnh hưởng lớn đối với hoạt động XNK thủy sản của nước này.

Vào những năm 1995-1996, các nhà máy chế biến thủy sản được xây dựng tại các quốc gia phát triển, trước khi chuyển về các nước đang phát triển có lợi thế về lao động và các chính sách môi trường - xã hội.

Từ năm 2000, rất nhiều nhà sản xuất thủy sản trên thế giới đã xây dựng các cơ sở chế biến tại Trung Quốc, dẫn đến sự tăng trưởng chưa từng có của ngành thủy sản nước này. Có thể nói đây là thời kì “hoàng kim” của ngành NK nguyên liệu và chế biến tái xuất thủy sản của Trung Quốc, đóng góp một tỉ trọng không nhỏ trong kim ngạch XNK của ngành thủy sản. Chỉ trong 6 năm (2001-2006), kim ngạch XK thủy sản của Trung Quốc tăng 2,21 lần, từ 4,637 tỉ USD (2001) lên 10,236 ti USD (2006). Trong khi đó, kim ngạch NK tăng 2,38 lần, từ 1,345 tỉ USD (2001) lên 3,199 tỉ USD (2006).

Tuy nhiên, việc Trung Quốc trở thành một trong 3 cường quốc kinh tế lớn nhất thế giới kể từ năm 2007 đã kéo theo những thay đổi quan trọng về các điều kiện lao động và tiêu chuẩn môi trường – xã hội của nước này. Ví dụ, thu nhập và mức lương tối thiểu trong ngành chế biến thủy sản Trung Quốc có tốc độ tăng chóng mặt và hiện cao hơn rất nhiều so với các đối thủ cạnh tranh như Việt Nam. Lợi thế của siêu cường này giảm đáng kể trong khi sự xuất hiện của nhóm người tiêu dùng giàu có mới nổi khiến nhu cầu tiêu thụ thủy sản cao cấp tăng. Thị phần NK thủy sản của Trung Quốc, do đó, ngày càng lớn.

Sau năm 2007, kim ngạch XK và NK thủy sản của quốc gia này vẫn tiếp tục tăng, thặng dư thương mại ngành thủy sản cũng liên tục tăng trưởng nhưng tốc độ đã giảm so với giai đoạn trước. Từ năm 2007-2011, kim ngạch XK tăng 1,78 lần (từ 10,584 tỉ USD lên 18,850 tỉ USD) và kim ngạch NK tăng 1,64 lần (từ 3,510 ti USD lên 5,768 tỉ USD).

Thực trạng XK thủy sản Việt Nam sang Trung Quốc

Là nước liền kề và có quan hệ thương mại thiết lập hàng nghìn năm với Trung Quốc, Việt Nam có những lợi thế giao thương nhất định với siêu cường quốc này. Xét về vị trí địa lý, có thể nói đây là nước láng giềng có điều kiện giao dịch thuận lợi nhất nhờ đường biên giới bộ ít hiểm trở và đường biển gần. Trong lĩnh vực thương mại, quan hệ hợp tác Việt-Trung phát triển nhanh chóng và sâu rộng trong tất cả các ngành hàng kể từ khi hai nước bình thường hóa quan hệ vào năm 1991.

Những yếu tố đó đã tác động không nhỏ đến hoạt động XK thủy sản của Việt Nam sang Trung Quốc. Đặc biệt, kể từ khi Trung Quốc trở thành một trong 3 quốc gia có nền kinh tế lớn nhất thế giới vào năm 2007, lợi thế của ngành chế biến thủy sản nước này giảm trong khi nhu cầu tiêu thụ thủy sản (nhất là thủy sản cao cấp) không ngừng tăng đã tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam tăng trưởng XK thủy sản sang Trung Quốc. Thêm vào đó, việc hiện thực hóa Khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc (ACFTA) vào năm 2010 đã thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động XK thủy sản của Việt Nam sang thị trường này.

Kim ngạch XK thủy sản của Việt Nam sang Trung Quốc có xu hướng tăng liên tục trong giai đoạn 2007-2012, từ 65,534 triệu USD (2007) lên 284,526 triệu USD (2012), tăng 334,17% .

Năm 2012, Trung Quốc là thị trường NK thủy sản lớn thứ 6 của Việt Nam, sau Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc và ASEAN. Trong đó, tôm là mặt hàng XK chủ lực của Việt Nam với kim ngạch XK đạt 193,508 triệu USD, chiếm 68% kim ngạch XK thủy sản sang Trung Quốc. Tiếp theo sau là sản phẩm chả cá và surimi (22,402 triệu USD, chiếm 7,9%) và nhuyễn thể chân đầu (16,631 triệu USD, chiếm 5,8%).

Triển vọng XK thủy sản Việt Nam sang Trung Quốc

Nhu cầu tiêu thụ thủy sản của Trung Quốc sẽ chứng kiến những thay đổi lớn trong tương lai cùng với sự tăng trưởng của dân số và thu nhập của người dân nước này. Theo Nhóm Cố vấn và Nghiên cứu Lương thực và Kinh doanh Nông nghiệp Ngân hàng Rabobank: “Nếu 20 năm qua, Trung Quốc là nhà máy chế biến thủy sản hàng đầu thế giới, thì trong 20 năm tới, quốc gia này sẽ lột xác thành người tiêu dùng thủy sản khổng lồ.” Do đó, đây sẽ là một thị trường tiềm năng cho tất cả các nhà XK thủy sản toàn cầu, bao gồm Việt Nam.

Ngoài các hiệp định kinh tế - thương mại khu vực như Hiệp định về Thương mại Hàng hóa ASEAN – Trung Quốc (có hiệu lực kể từ năm 2005), Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN – Trung Quốc (có hiệu lực từ năm 2010), các chương trình hợp tác kinh tế giữa chính phủ Việt Nam và Trung Quốc trong gần một thập kỉ qua cũng mở ra những cơ hội lớn cho hoạt động XK thủy sản của Việt Nam sang nước láng giềng này. Đáng chú ý nhất là chương trình hợp tác “hai hành lang, một vành đai kinh tế” được xây dựng bởi lãnh đạo hai nước từ tháng 5/2005 với trọng tâm là tăng tốc xây dựng các tuyến đường cao tốc và hệ thống đường sắt tiêu chuẩn quốc tế trên hai hành lang kinh tế: (I) Côn Minh – Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh, và (II) Nam Ninh – Lạng Sơn – Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh. Nhờ đó, các nhà XK thủy sản Việt Nam có thể dễ dàng phân phối hàng hóa sang phía Tây Trung Quốc (Côn Minh) – khu vực khan hiếm thủy sản của nước này. Đây là một phân khúc thị trường đầy triển vọng, đặc biệt là đối với các mặt hàng ngày càng được ưa chuộng tại Trung Quốc như tôm.

Nếu tiếp cận tốt, cá tra của Việt Nam cũng có cơ hội thâm nhập thành công vào quốc gia tỉ dân này, mà trước hết, các nhà XK cần nhắm được phân khúc thị trường mục tiêu và học hỏi kinh nghiệm của Na Uy về chiến lược đưa cá hồi vào Trung Quốc và biến nước này thành nhà NK cá hồi lớn của thế giới.

Vietfish