Thời gian qua giá lúa đông xuân giảm do từ tháng 7/2018, Trung Quốc đã tăng thuế nhập khẩu và giảm thu mua gạo qua đường tiểu ngạch, chuyển sang thu mua chính ngạch làm cho các hợp đồng với Trung Quốc bị chậm lại, một số doanh nghiệp bị tồn kho. Mặt khác, Tổng Công ty Lương thực miền Bắc và Tổng Công ty Lương thực miền Nam chưa có các hợp đồng xuất khẩu lớn nên chưa tập trung thu mua lúa, trong khi nông dân thu hoạch rộ dẫn đến cung vượt cầu, giá giảm. Các thị trường nhập khẩu gạo chính như Indonesia, Philippines, Malaysia, Trung Quốc chậm mua để chờ giá.
Những ngày gần đầy, giá lúa gạo tại ĐBSCL đã phục hồi sau khi các cơ quan chức năng thực hiện chỉ thị của Thủ tướng thu mua lúa để dự trữ, giá tăng 100-200 đ/kg so với thời điểm đầu vụ thu hoạch. Cụ thể, lúa Jasmine 85 (lúa tươi) hiện có giá từ 5.100 - 5.200 đ/kg, lúa Đài Thơm 8 từ 4.800 - 4.900 đ/kg, giống lúa IR 504 từ 4.500 - 4.600 đ/kg. Tuy giá tăng nhẹ nhưng vẫn thấp hơn vụ đông xuân 2017 - 2018 nên nhiều hộ nông dân có xu hướng trữ lúa chờ giá cao hơn.
Hiện tại, các doanh nghiệp đang tích cực thu mua lúa trong dân nên dự báo trong thời gian tới, giá lúa sẽ còn nhích lên.
Tham khảo giá lúa gạo tại ĐBSCL tuần 28/2 – 1/3//2019

Chủng loại

Ngày 28/2/2019

Ngày 1/3/2019

Ngày 2/3/2019

Lúa tươi IR 504

4.500 – 4.600

4.500 – 4.600

4.500 – 4.600

Gạo NL IR 504

6.380 – 6.450(+15)

6.400 – 6.450(+10)

6.450 – 6.500(+50)

Gạo TP IR 504

7.250 – 7.350

7.250 – 7.350

7.250 – 7.350

Gạo NL OM 5451

6.850 – 6.950(+50)

6.900 – 7.000(+50)

6.950 – 7.050(+50)

Tấm IR 504

6.550 – 6.660

6.550 – 6.660

6.550 – 6.660

Cám

4.800 – 4.900

4.800 – 4.850(-25)

4.800 – 4.850

Giá lúa gạo trong nước phục hồi kéo giá gạo 5% tấm xuất khẩu của Việt Nam đạt 345 USD/tấn, tăng từ mức 340 USD/tấn trong tuần trước. Trong khi đó, nhu cầu yếu và sự biến động của tiền tệ khiến giá gạo xuất khẩu tại hai quốc gia sản xuất hàng đầu thế giới là Ấn Độ, Thái Lan giảm trong tuần này. Tại Ấn Độ, gạo 5% tấm khoảng 378 - 383 USD/tấn, giảm từ mức 380 - 385 USD của tuần trước vì đồng rupee mất giá. Sản lượng gạo Ấn Độ đang ở mức cao kỉ lục, có thể lên tới 281,37 triệu tấn.

Giá gạo 5% tấm tại Thái Lan cũng giảm còn 383 - 398 USD (FOB) từ mức 383 - 405 USD của tuần trước. Nguồn cung tăng, nhu cầu vẫn ảm đạm.
Các nhà xuất khẩu vẫn kì vọng vào các thỏa thuận lớn từ Philippines, đồng baht mạnh hơn so với USD đã khiến xuất khẩu gạo Thái Lan kém cạnh tranh hơn. Tuy nhiên, chính phủ Philippines sẽ phải giải quyết tỉ lệ tự cung tự cấp gạo hiện tại để phù hợp với việc nhập khẩu gạo sắp tới vào nước này khi tự do hóa nhập khẩu.
Tại Myanmar, một quan chức từ Liên đoàn Gạo quốc gia này cho biết họ đang thảo luận với Trung Quốc để tăng hạn ngạch xuất khẩu gạo sang thị trướng lớn nhất thế giới. Theo đó, hạn ngạch xuất khẩu gạo hợp pháp sang thị trường Trung Quốc là 400.000 tấn.
Về những “điểm nghẽn” trong sản xuất và tiêu thụ lúa gạo thời gian qua, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT cho rằng chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và tính cạnh tranh của ngành lúa gạo thấp; xuất khẩu gạo khối lượng lớn nhưng giá trị thấp; sản xuất thiếu tính bền vững... Ngoài ra, năng lực thu mua tạm trữ của doanh nghiệp còn yếu. Chính vì vậy, sự vào cuộc nhanh của ngân hàng và doanh nghiệp sau chỉ đạo của Thủ tướng góp phần rất lớn để giải quyết những khó khăn trước mắt.Đây là thời điểm tốt nhất để doanh nghiệp thu mua lúa trong dân, bởi với giá và chất lượng lúa hiện tại, khi bán ra, doanh nghiệp sẽ được hưởng lợi. Các ngành chức năng có liên quan và địa phương phải vào cuộc quyết liệt giúp cho giá lúa được cải thiện, người dân thu được lợi nhuận. Về lâu dài, chúng ta phải tổng rà soát lại một cách căn cơ, chủ động giảm diện tích lúa ở vùng xâm nhập mặn, vùng trũng, vùng khó bơm nước và thay vào đó là trồng những nông sản khác có thị trường tốt hơn...
Theo Bộ NN&PTNT, đầu năm 2019, xuất khẩu gạo của nước ta có xu hướng giảm do cạnh tranh gay gắt với các nhà xuất khẩu lớn như Thái Lan, Ấn Độ và một số nước mới nổi: Campuchia, Myanmar và Pakistan với nhiều loại gạo đạt chất lượng vượt trội. Ngoài ra, Trung Quốc – thị trường xuất khẩu gạo lớn của nước ta đã mở cửa cho gạo từ Ấn Độ, Campuchia, Myanmar. Trung Quốc cũng đã tăng cường kiểm soát chặt chẽ vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm đối với mặt hàng gạo thông qua đề nghị Việt Nam thống kê lại năng lực sản xuất của 22 thương nhân kinh doanh xuất khẩu gạo được Trung Quốc cho phép nhập khẩu. Đây cũng là nguyên nhân khiến xuất khẩu gạo Việt Nam chững lại.
Ông Phạm Văn Chinh, Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương, cho biết: “Đầu tháng 2-2019, giá lúa gạo giảm là do tác động cộng hưởng từ nhiều nguyên nhân. Trong đó, nguyên nhân chính là do tín hiệu thị trường nhập khẩu chưa rõ ràng trong khi đó nguồn cung vụ đông xuân- vụ lúa lớn nhất trong năm dồi dào và thu hoạch sớm hơn so với các năm trước”.
Dù còn khó khăn, nhưng triển vọng xuất khẩu gạo Việt Nam thời gian tới được dự báo sẽ có chuyển biến tích cực do nhu cầu thị trường vẫn khá. Năm 2019, diện tích lúa trên cả nước là 7,53 triệu ha, năng suất trung bình dự kiến 58,1 tấn/ha, sản lượng lúa đạt 43,8 triệu tấn, tương đương năm 2018, đủ cho nhu cầu trong nước và kế hoạch xuất khẩu. Đối với xuất khẩu gạo, Chính phủ tiếp tục dành sự quan tâm, chỉ đạo sâu sát, kịp thời và có nhiều quyết sách tạo thuận lợi, tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, phát triển thị trường.
Nguồn: VITIC tổng hợp