Lúa mì Nga mất 1 đợt đấu thầu mua vào bởi Ai Cập trong tuần trước, khi giá lúa mì Nga đắt hơn Romani và Ukraine. Ai Cập là khách hàng mua lúa mì lớn nhất của Nga trong mấy năm gần đây.

Giá lúa mì Nga khu vực Biển Đen với 12,5% protein kỳ hạn tháng 4/2019 đạt 225 USD/tấn FOB tuần kết thúc ngày 12/4/2019, không thay đổi so với phiên trước đó, công ty tư vấn nông nghiệp Nga (IKAR) cho biết.

SovEcon, công ty tư vấn có trụ sở tại Moscow cho biết, giá lúa mì tăng 1 USD lên 227 USD/tấn FOB.

Thời tiết  sẽ thuận lợi cho việc gieo trồng ngũ cốc trong 2 tuần tới, SovEcon cho biết. SovEcon có khả năng  sẽ nâng dự báo sản lượng ngũ cốc Nga năm 2019 từ ước tính trước đó 126,1 triệu tấn ngũ cốc bao gồm  80 triệu tấn lúa mì. Bộ  Nông nghiệp Nga dự báo sản lượng ngũ cốc của nước này năm 2019 đạt 118 triệu tấn.

Tính đến 12/4/2019, Nga đã gieo 6,6% diện  tích trồng ngũ cốc vụ xuân tương đương 1,9 triệu ha, so với 741.100 ha cùng kỳ năm ngoái, Bộ Nông nghiệp cho biết.

Nga xuất khẩu 37,8 triệu tấn ngũ cốc từ đầu niên vụ ngày 1/7/2018  đến 11/4/2019, giảm 7% so với cùng kỳ niên vụ trước, SovEcon cho biết. Con số này bao gồm 31,7 triệu tấn lúa mì, không thay đổi so với cùng kỳ năm ngoái.

Giá lúa mì loại 3 thị trường nội địa tăng 125 RUB lên 12.200 RUB (190  USD)/tấn tuần kết thúc ngày 12/4/2019 tại khu vực châu Âu của Nga, giá xuất  xưởng, SovEcon cho biết. Nguồn cung xuất xưởng không bao gồm chi phí giao hàng.

Bộ Nông nghiệp Nga tiếp tục bán ngũ cốc từ kho dự trữ trong tuần trước, gồm 15.000 tấn lúa mì. Nga đã bán  1,75 triệu tấn ngũ cốc bao go òm 1,47 triệu tấn lúa mì kể từ đầu năm marketing. Giá hạt hướng dương  giảm 100 RUB xuống 18.875 RUB/tấn, trong khi giá dầu hướng dương thị trường nội địa giảm 200 RUB xuống  42.325 RUB/tấn, SovEcon cho biết. Giá xuất khẩu dầu hướng dương  tăng 10 USD lên 650 USD/tấn. IKAR cho biết, chỉ số giá đường trắng khu vực phía nam Nga tăng 4 USD lên 504,7 USD/tấn so với tuần trước đó.

1 USD = 64,2900 RUB

Nguồn: VITIC/Reuters

Nguồn:vinanet