Trên thị trường năng lượng, giá dầu giảm do lo ngại dư thừa cung sau đồn đoán phiến quân Nigeria sẽ dừng mọi hoạt động phá hoại.
Kết thúc phiên giao dịch, giá dầu thô ngọt nhẹ (WTI) kỳ hạn giao tháng 10/2016 trên sàn New York giảm 66 cent, tương ứng 1,4%, xuống 46,98 USD/thùng. Giá dầu Brent giao cùng kỳ hạn trên sàn London giảm 66 cent, tương đương 1,3%, xuống 49,26 USD/thùng.
Phiến quân Nigeria cam kết dừng mọi hành động thù địch nhằm vào ngành dầu khí tại nước sản xuất dầu thô số 1 châu Phi này.
Theo kết quả khảo sát của Reuters, lượng dầu lưu kho của Mỹ tuần qua được dự đoán tăng 1,3 triệu thùng, ghi nhận tuần thứ 2 tăng liên tiếp.
Tuy giá dầu tăng hơn 25% kể từ đầu năm đến nay do đồn đoán tình trạng thừa cung toàn cầu sẽ giảm, song nhiều nhà phân tích và giới đầu tư nhận định mức trần sẽ là 50 USD/thùng và nhiều công ty sản xuất dầu có thể lại tăng sản lượng.
Hôm 29/8, hãng Statoil ASA của Na Uy cho biết, giếng dầu Johan Sverdrup tại Biển Bắc có thể mang lại lợi nhuận ngay cả khi giá dầu giảm xuống dưới 25 USD/ounce. Hãng này cũng tăng sản lượng khai thác từ giếng dầu này.
Theo số liệu của Baker Hughes, số giàn khoan dầu của Mỹ tuần qua không đổi sau 8 tuần tăng liên tiếp. Hoạt động khoan dầu của Mỹ tích cực hơn đã dấy lên lo ngại giá dầu đã đủ cao để khuyến khích các nhà sản xuất tăng sản lượng, khiến tình trạng thừa cung trở nên trầm trọng hơn.
Giá dầu đã tăng từ đầu tháng 8 đến giữa tuần trước sau những tín hiệu cho thấy Arab Saudi và các nước thành viên OPEC khác có thể cùng với các nước ngoại khối đi đến thỏa thuận đóng băng sản lượng tại phiên họp ở Algeria vào ngày 26-28/9 tới đây.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng hồi phục từ mức thấp nhất 5 tuần khi USD đi xuống, bất chấp áp lực từ bình luận của các quan chức Fed về tăng lãi suất.
Giá vàng giao ngay tăng 0,3% lên 1.324,41 USD/ounce, chấm dứt mạch giảm 6 phiên liên tiếp. Giá vàng giao tháng 12/2016 trên sàn Comex (New York) tăng 0,09% lên 1.327,1 USD/ounce. Đầu phiên, có lúc giá xuống 1.321,2 USD/ounce.
Chỉ số Đôla Wall Street Journal, theo dõi USD với 16 đồng tiền trong giỏ tiền tệ, phiên 29/8 tăng 0,1%.
Chủ tịch Fed Janet Yellen hôm 26/8 đã phát tín hiệu rằng Ngân hàng trung ương Mỹ có thể nâng lãi suất trong vài tuần tới hoặc tháng tới. Phó chủ tịch Fed Stanley Fischer cũng cho rằng ngân hàng trung ương Mỹ vẫn tiếp tục lộ trình nâng lãi suất trong năm nay. Ông Fischer cho biết tỷ lệ dự đoán Fed nâng lãi suất vào tháng 9 lên trên 30%, tăng so với 18% trước đó, nhưng tỷ lệ này hôm 29/8 lại giảm xuống 21%. Lãi suất tăng sẽ đẩy USD lên cao, khiến giá dầu trở nên đắt đỏ hơn đối với khách hàng sử dụng ngoại tệ.
Giá vàng biến động theo diễn biến của USD. Đồng bạc xanh mất đà tăng có được trong đầu phiên 29/8 sau khi Chủ tịch Fed Yellen không đưa ra bất kỳ manh mối cụ thể nào về lộ trình nâng lãi suất.
Một số nhà phân tích dự đoán, đà suy yếu của giá vàng có thể kéo dài sang những tuần tới và giá vàng được dự đoán giảm xuống 1.270 USD/ounce hoặc thấp hơn.
Trong số các kim loại quý khác, giá bạc giao ngay tăng 1,2% lên 18,84 USD/ounce, giá bạch kim tăng 1,1% lên 1.079,20 USD/ounce và giá palladium tăng 1,5% lên 695,6 USD/ounce.
Trên thị trường nông sản, giá lúa mì tiếp tục giảm phiên thứ 6 liên tiếp xuống mức thấp nhất 10 năm do nguồn cung dồi dào. Ngô xuống mức thấp nhất 7 năm, và đậu tương cũng giảm.
Trên thị trường Chicago, giá lúa mì kỳ hạn tháng 9 giá giảm 13 US cent xuống 3,70-1/2 USD/bushel. Trong phiên có lúc giá xuống 3,69-1/2 USD, thấp nhất kể từ tháng 8/2006.
Ngô kỳ hạn tháng 12 giá giảm 4-1/4 US cents xuống 3,20-3/4 USD/bushel, trong khi đậu tương kỳ hạn tháng 11 giảm 3 US cent xuống 9,64-1/4 USD/bushel.
Cà phê đồng loạt tăng giá. Arabica tăng phiê thứ 7 trong vòng 8 phiên, vượt mức trung bình 50 ngày, với hợp đồng kỳ hạn tháng 12 tăng 0,25 US cent hay 0,2% lên 1,451 USD/bushel.
Giá hàng hóa thế giới

 

Hàng hóa

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

46,98

+0,66

+1,4%

Dầu Brent

USD/thùng

49,26

+0,66

+1,3%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

30.100,00

-80,00

-0,27%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,88

+0,01

+0,28%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

147,12

+0,43

+0,29%

Dầu đốt

US cent/gallon

148,75

+0,13

+0,09%

Dầu khí

USD/tấn

438,00

+2,25

+0,52%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

41.440,00

-50,00

-0,12%

Vàng New York

USD/ounce

1.326,60

-0,50

-0,04%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.327,00

+7,00

+0,16%

Bạc New York

USD/ounce

18,87

+0,01

+0,06%

Bạc TOCOM

JPY/g

61,50

+1,00

+1,65%

Bạch kim giao ngay

USD/t oz.

1.076,35

-0,90

-0,08%

Palladium giao ngay

USD/t oz.

696,01

-3,23

-0,46%

Đồng New York

US cent/lb

208,95

+1,05

+0,51%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

4.615,00

-11,00

-0,24%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

1.642,50

-2,00

-0,12%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

2.314,50

+16,50

+0,72%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

18.890,00

+140,00

+0,75%

Ngô

US cent/bushel

321,00

+0,25

+0,08%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

398,50

+1,50

+0,38%

Lúa mạch

US cent/bushel

179,75

+0,75

+0,42%

Gạo thô

USD/cwt

9,73

+0,02

+0,21%

Đậu tương

US cent/bushel

966,75

+2,50

+0,26%

Khô đậu tương

USD/tấn

315,30

+0,20

+0,06%

Dầu đậu tương

US cent/lb

33,32

+0,10

+0,30%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

459,00

+2,80

+0,61%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.925,00

-90,00

-2,99%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

145,10

+0,25

+0,17%

Đường thô

US cent/lb

20,67

+0,06

+0,29%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

189,10

+3,45

+1,86%

Bông

US cent/lb

66,65

-0,30

-0,45%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

322,70

-7,00

-2,12%

Cao su TOCOM

JPY/kg

154,70

+0,20

+0,13%

Ethanol CME

USD/gallon

1,42

0,00

-0,35%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg