Thị trường đường: Giá đường thô kỳ hạn tháng 10 thiết lập giảm 0,4 cent, tương dương 2,9% xuống ở 13,24 UScent/lb, sau khi sụt xuống mức thấp nhất kể từ ngày 29/6 ở 13,2 UScent. Giá của hợp đồng giao ngay đã giảm khoảng 11% trong vòng tám ngày. Tổng hợp đồng mở cửa đã tăng hơn 23.000 lô trong sáu phiên trước lên 785.904 lô.

Giá đường trắng kỳ hạn tháng 10 chốt phiên giảm 11,4 USD, tương đương 3% xuống ở 366,5 USD/tấn, sau khi rơi xuống mức thấp nhất kể từ tháng 9/2015 ở 365,5 USD.

Thị trường cà phê: Giá cà phê arabica kỳ hạn tháng 12 đóng cửa giảm 4,15 cent, tương đương 2,8% chốt ở 1,42 USD/lb. Giá robusta kỳ hạn tháng 9 cũng giảm 46 USD, tương đương 2,2% xuống mức 2.090 USD/tấn, sau khi xuống mức thấp nhất kể từ ngày 29/6 ở 2.083 USD.

Giao dịch ở các nước xuất khẩu cà phê của châu Á khá chậm chạp do các nhà xuất khẩu ở Việt nam không muốn bán cà phê vào cuối vụ trong khi giá ở Indonesia vẫn không đổi.

Tại Indonesia, giá robusta loại 4, 80 hạt lỗi giao dịch không đổi với mức trừ lùi 15 – 20 USD theo hợp đồng kỳ hạn tháng 9 trên sàn ICE. Một thương nhân ở Lampung – khu vực trồng cà phê chính của Indonesia cho biết, nguồn cung cà phê khan hiếm khi vụ thu hoạch kết thúc, nhưng không đưa ra thông tin chi tiết về trữ lượng.

Thị trường ca cao: Giá ca cao New York kỳ hạn tháng 12 giảm 40 USD, tương đương 2% chốt tại 1.965 USD/tấn, sau khi giảm xuống mức thấp nhất kể từ ngày 27/7 ở 1.954 USD. Giá tiếp tục suy giảm khi tổng hợp đồng mở cửa giảm phiên thứ chín liên tiếp.

Giá ca cao London kỳ hạn tháng 9 cũng mất 19 GBP, tương đương 1,2% xuống tại 1.538 GBP/tấn.

Tính đến ngày 31/7, lượng ca cao cập cảng tại Bờ Biển Ngà đạt 1.899.857 tấn (kể từ đầu vụ), tăng lên từ mức 1.435.145 tấn trong cùng kỳ vụ trước, theo dữ liệu chính thức.

Các nhà xuất khẩu đã ước tính lượng ca cao cập cảng ở quanh mức 1.951.000 tấn tính đến ngày 30/7, nhưng con số từ Hội đồng cà phê ca cao nước này lại thấp hơn do một số bị từ chối bởi chất lượng kém.

Nguồn: VITIC/Reuters