Cụ thể, tại Đăk Lăk , Gia Lai giá tăng 1.000 đồng/kg, ngược lại tại Đồng Nai giảm 1.000 đồng. Còn tại Đăk Nông, Bà Rịa – Vũng Tàu và Bình Phước giá đi ngang không đổi so với ngày hôm qua 5/11/2018.
Hiện giá tiêu đang được các doanh nghiệp và thương lái thu mua quanh mức 58.000 – 59.000 đồng/kg.
Bà Rịa – Vũng Tàu là vùng nguyên liệu được ghi nhận có mức giá cao nhất 59.000 đồng/kg, còn Đồng Nai giá thấp ở mức 57.000 đồng/kg.
Diễn biến giá hạt tiêu tại một số vùng nguyên liệu ngày 06/11/2018
ĐVT: Đồng/kg

Vùng nguyên liệu

06/11

+/- so với ngày 05/11

Đăk Lăk (Ea H'leo)

59.000

+1.000

Gia Lai (Chư Sê)

58.000

+1.000

Đăk Nông (Gia Nghĩa)

58.000

0

Bà Rịa-Vũng Tàu

59.000

0

Bình Phước

59.000

0

Đồng Nai

57.000

-1.000

              (Nguồn:Tintaynguyen)

Dẫn nguồn tin từ giatieu.com (giá tiêu được cập nhật 15 phút một lần), trên thị trường thế giới, tại sàn Kochi - Ấn Độ ngày 06/11/2018 lúc 10:16:20 (giờ Việt Nam) giá tiêu giao kỳ hạn tháng 10/2018 giảm 173,10 rupee (tức giảm 0,44%) xuống còn 39.450 rupee/tạ.
Trên thị trường tiền tệ, tỷ giá trung tâm giữa đồng Việt Nam (VND) và đô la Mỹ (USD) sáng 6/11/2018 Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 22.725 VND, tăng 2 đồng so với ngày hôm qua.
Với biên độ +/- 3% đang được áp dụng, tỷ giá trần mà các ngân hàng áp dụng hôm nay là 23.406 VND/USD và tỷ giá sàn là 22.044 VND/USD.
Tại các ngân hàng thương mại giá USD ổn định, trong khi đó giá đồng bảng Anh (GBP) tiếp tục tăng.
Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam đối với đồng rupee Ấn Độ (INR) ngày hôm nay được Ngân hàng Nhà nước áp dụng tính thuế xuất khẩu và thuế nhập khẩu là 307,27 VND/INR.
Tại thị trường tự do, lúc 09h30 giá USD niêm yết ở mức mua vào là 23.415 đồng/USD và bán ra là 23.430 đồng/USD, giảm 10 đồng ở chiều mua vào và giảm 5 đồng ở chiều bán ra so với chiều ngày 5/11/2018.
Theo Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn), giá trị xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản tháng 10/2018 đạt 3,36 tỷ USD, đưa tổng giá trị xuất khẩu toàn ngành 10 tháng lên 32,6 tỷ USD, tăng 8,1% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó, giá trị xuất khẩu nhóm nông sản tăng 2,3%; thuỷ sản tăng 6,2%; lâm sản tăng 16,3%.
Trong 10 tháng, nông, lâm, thuỷ sản cả nước xuất khẩu mạnh nhất vào 4 thị trường: Trung Quốc chiếm 22,8% tổng kim ngạch; Mỹ chiếm 17,7%; Nhật Bản chiếm 9% và Hàn Quốc chiếm 6,9%. Điều đáng nói, xuất khẩu vào Hàn Quốc lại có tốc độ tăng trưởng mạnh nhất, tăng tới 30,4% so với cùng kỳ năm 2017.
Đối với mặt hàng tiêu, tháng 10/2018 đã xuất đi 14 nghìn tấn, đem về 43 triệu USD; lũy kế 10 tháng đạt 207 nghìn tấn và 676 triệu USD, tăng 7,9% về lượng nhưng giảm 33,4% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017. Các thị trường chính của hạt tiêu Việt Nam tiếp tục là: Mỹ chiếm 19%, Ấn Độ chiếm 8,5%, Pakistan chiếm 4,4%. Xuất khẩu hạt tiêu sang các thị trường này đều có xu hướng tăng về lượng nhưng giảm về giá trị do giá thấp. Giá xuất khẩu hạt tiêu bình quân 10 tháng đầu năm 2018 là 3.266 USD/tấn, giảm 38,3% so với cùng kỳ 2017…