Mỹ

5 tháng đầu năm 2016, giá trị XK cá tra sang thị trường Mỹ đạt 152 triệu USD, chiếm 23,4% tổng XK, tăng 12,9% so với cùng kỳ năm 2015. Mặc dù, số lượng DN tham gia XK sang thị trường này ít nhưng giá trị XK cao nhất trong top 10 thị trường hàng đầu của cá tra Việt Nam.

Theo thống kê của ITC, 4 tháng đầu năm 2016, Việt Nam là nguồn cung lớn thứ 2 trong cơ cấu NK sản phẩm cá thịt trắng của Mỹ (sau Trung Quốc). 2 tháng đầu năm, giá trị NK cá rô phi phile đông lạnh (HS 030461) chiếm tỷ trọng lớn nhất từ 35 - 38,4% tổng giá trị NK cá thịt trắng, nhưng hai tháng tiếp theo, Mỹ lại tập trung NK cá tra phile đông lạnh (HS 030462) với tỷ trọng chiếm gần 27%, vượt qua giá trị NK cá rô phi phile đông lạnh của Trung Quốc.

Trong 5 tháng XK đầu năm nay, thuế chống bán phá giá cao, chương trình thanh tra cá da trơn là hai rào cản và áp lực lớn nhất của các DN XK cá tra Việt Nam sang Mỹ. Ngày 29/3/2016, Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) đã công bố Quyết định cuối cùng đợt rà soát hành chính thuế chống bán phá giá lần thứ 11 (POR11) cho giai đoạn từ ngày 01/8/2013 đến 31/7/2014 đối với sản phẩm cá tra, basa nhập khẩu từ Việt Nam. Trong kết luận cuối cùng, DOC xác định mức thuế cuối cùng đối với các nhà sản xuất, xuất khẩu cá tra, basa của Việt Nam. Theo đó, mức thuế mà hai bị đơn bắt buộc là HUNG VUONG CORP và TAFISHCO lần lượt là 0,41 USD/kg, và 0,97 USD/kg. 14 công ty là bị đơn tự nguyện trong đợt xem xét lần này chịu mức thuế là 0,69 USD/kg. Thuế suất toàn quốc vẫn ở mức 2,39 USD/kg. Với mức thuế cao như hiện nay, chỉ có hai công ty là: VINH HOAN CORP và BIEN DONG SEAFOOD hưởng mức thuế 0% tham gia tích cực và ổn định XK cá tra sang thị trường Mỹ.

EU

Tuy mức độ sụt giảm không quá mạnh nhưng 5 tháng đầu năm nay, XK cá tra sang thị trường EU vẫn tiếp đà giảm liên tục qua các tháng. Tính đến hết tháng 5/2016, giá trị XK sang EU đạt 109,3 triệu USD, giảm 8,1%. Trong đó, 4 thị trường giá trị XK đơn lẻ lớn nhất là: Anh giảm 3,4%; Tây Ban Nha tăng 1,9%; Hà Lan giảm 20,8% và Đức tăng 1,8%. Như vậy, trái ngược với xu thế XK cùng kỳ năm trước, giá trị XK cá tra sang hai thị trường tiềm năng Hà Lan và Anh trong nửa đầu năm nay giảm. Theo đánh giá của một số DN XK lớn sang thị trường EU, đây là thị trường có yêu cầu và các đòi hỏi cao nhất trong top các thị trường XK lớn. Trong khi đó, cả khối lượng và giá trị đều không tăng.

Trung Quốc – Hong Kong và Brazil

Giá trị XK cá tra sang thị trường này khá tốt. 5 tháng đầu năm nay, giá trị XK sang Trung Quốc – Hong Kong đạt 94,9 triệu USD, tăng 72,7%; sang Brazil đạt 32,8 triệu USD, tăng 118,3% so với cùng kỳ năm trước.

Theo báo cáo của ITC, năm 2015, giá trị NK cá tra của Trung Quốc từ Việt Nam tương đối ổn định nhưng chỉ chiếm dưới 5% tổng giá trị NK cá thịt trắng của Trung Quốc. Nước này chủ yếu NK cá Alaska Pollack, cá Haddock, cá Cod với giá trị NK gần 90% tổng NK cá thịt trắng.

Năm 2015, theo thống kê của ITC, tổng giá trị NK sản phẩm thủy sản đông lạnh của Brazil giảm 23% so với năm trước. Trong đó, nhóm sản phẩm cá phile ướp lạnh, tươi, đông lạnh (HS 0304) giảm 25% về giá trị và 22% về khối lượng; nhóm thủy sản tươi, nguyên con (HS 0302) giảm 13% về giá trị và tăng 4% về khối lượng; nhóm thủy sản hun khói, bột cá (HS 0305) giảm 27% về giá trị và 30% về lượng so với năm 2014. Nhóm cá phile tươi, ướp lạnh, đông lạnh (HS 0304) chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng giá trị NK thủy sản tươi, ướp lạnh và đông lạnh của Brazil. Tiếp đó là nhóm cá HS 0302 và HS 0305.

Trong cơ cấu sản phẩm cá thịt trắng NK của nước này, năm 2015, giá trị NK hầu hết sản phẩm đều giảm, trong đó, giá trị NK cá tra và cá da trơn phile đông lạnh giảm 37%; cá Hake phile đông lạnh giảm 18,6%, cá Alaska Pollack phile đông lạnh giảm 4,2%, cá Cod đông lạnh giảm 32,9% so với năm 2014.

Tính đến hết tháng 4/2016, cá tra phile chiếm tỷ trọng NK cao nhất trong cơ cấu sản phẩm cá thịt trắng của Brazil, chiếm trên 39% tổng NK, trong đó, các sản phẩm cá thịt trắng khác như: Cá Hake, cá Cod, cá Alaska Pollack đều chiếm dưới 35% tổng NK cá thịt trắng.

Nguồn: vasep.com.vn