Sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam trong những năm qua đã giúp tỷ trọng nhóm người thuộc tầng lớp trung và thượng lưu gia tăng. Với cơ cấu dân số "vàng" như hiện nay cùng thói quen tiêu dùng của người dân, sức mua của thị trường được cải thiện đáng kể.
Theo báo cáo của Euromonitor, ngân sách chi tiêu của người Việt Nam đã tăng mạnh từ cả thành thị đến nông thôn trong năm 2017 và được dự báo sẽ tiếp tục tăng nhanh trong những năm tới. Còn theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, chỉ số GDP tương ứng với sức mua của người Việt Nam trong năm 2017 đạt 6.876 USD/người và sẽ nâng lên mức 7.377 USD/người trong năm 2018.
Trong khi đó, theo báo cáo của Hội đồng Vàng thế giới, nhu cầu trang sức vàng toàn thế giới năm 2017 tăng 4% so với năm 2016, đạt 16,5 tấn, đặc biệt tăng mạnh trong quý IV. So với các nền kinh tế trong khu vực, ngoại trừ HongKong và Indonesia, mức cầu trang sức của thị trường Việt Nam thường cao hơn các thị trường còn lại, đặc biệt trong năm 2017, biên độ còn được nới rộng hơn. Cũng theo số liệu từ Hội đồng Vàng thế giới, trong khi lượng cầu trang sức vàng của hầu hết các nền kinh tế trong khu vực đều giảm, thì HongKong và Việt Nam là 2 thị trường có mức tăng trưởng cao hơn năm 2016.
Ngoài việc đáp ứng nhu cầu tại thị trường nội địa, Việt Nam còn xuất khấu ra thị trường thế giới.
Theo số liệu thống kê sơ bộ từ TCHQ, kim ngạch xuất khẩu đá quý, kim loại quý và sản phẩm của Việt Nam đã thu về trên 574 triệu USD trong 11 tháng đầu năm 2018, tăng 13,4% so với cùng kỳ 2017, riêng tháng 11/2018 đạt 66 triệu USD, tăng 6,2% so với tháng 10/2018.
Đá quý, kim loại quý và sản phẩm của Việt Nam đã có mặt tại hơn 10 quốc gia trên thế giới, trong đó Mỹ là thị trường chủ lực, chiếm 62,7% tỷ trọng đạt 360,34 triệu USD, tăng 36,77% so với cùng kỳ 2017, riêng tháng 11/2018 xuất sang Mỹ đạt kim ngạch 41 triệu USD, tăng 7,24% so với tháng 10/2018 và tăng 38,02% so với tháng 11/2017. Đứng thứ hai là thị trường Nhật Bản đạt 57,3 triệu USD, tăng 4,62% so với cùng kỳ, mặc dù kim ngạch xuất khẩu trong tháng 11/2018 giảm so với tháng 10/2018 là 17,16% và 3,63% so với tháng 11/2017 tương ứng với 5,52 triệu USD. Kế đến là thị trường Hongkong (TQ), nhưng tốc độ xuất sang thị trường này giảm 13,71% chỉ với 29,26 triệu USD và kim ngạch trong tháng 11/2018 cũng giảm 3,2% so với tháng 10/2018 và giảm 34,86% so với tháng 11/2017 tương ứng với trên 2 triệu USD.
Ngoài những thị trường kể trên, Việt Nam còn xuất sang các thị trường khác như: Pháp, Bỉ, Anh, Thụy Sỹ….
Đặc biệt, thời gian này xuất sang thị trường Thái Lan tăng vượt trội, tăng 50,42% tuy chỉ đạt 2,96 triệu USD, riêng tháng 11/2018 cũng tăng tới 71% so với tháng 10/2018 và tăng gấp 5,5 lần (tức tăng 450,13%) so với tháng 11/2017 đạt 550,2 nghìn USD. Ở chiều ngược lại, xuất sang thị trường Thụy Sỹ giảm mạnh 98,65% tương ứng với 449,5 nghìn USD, mặc dù riêng tháng 11/2018 tăng 25,72% so với tháng 10/2018 đạt 69 nghìn USD.
Thị trường xuất khẩu đá quý, kim loại quý và sản phẩm 11 tháng năm 2018

Thị trường

T11/2018 (USD)

+/- so với T10/2018 (%)

11T/2018 (USD)

+/- so với cùng kỳ 2017 (%)*

Mỹ

41.018.866

7,24

360.348.900

36,77

Nhật Bản

5.525.915

-17,16

57.370.739

4,62

HongKong (TQ)

2.016.428

-3,2

29.263.646

-13,71

Pháp

4.495.361

58,51

25.387.061

17,31

Hàn Quốc

1.290.226

-6,05

15.633.234

2,74

Bỉ

2.196.131

-6,11

15.316.210

-58,54

Australia

2.491.364

43,37

13.584.280

4,96

UAE

1.695.906

372,04

4.806.063

-26,07

Đức

437.986

-23,54

4.564.770

-17,35

Anh

661.001

54,42

3.870.267

30,75

Thái Lan

550.291

70,77

2.966.062

50,42

Tây Ban Nha

235.082

-49,14

2.496.254

4,08

Đài Loan

66.768

-67,21

739.849

-20,86

Thụy Sỹ

69.011

25,72

449.530

-98,65

(*Vinanet tính toán số liệu từ TCHQ)